ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, đóng vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống con ngƣời cũng nhƣ môi trƣờng: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo oxy, điều hòa nƣớc, là nơi cƣ trú của động vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cho sự sống, bảo vệ sức khỏe con ngƣời,… Theo Bộ NN&PTNT [19], tính đến ngày 31/12/2016, cả nƣớc có 14.682 ha rừng, với độ che phủ là 41,19%. Trong đó: diện tích rừng tự nhiên là 10.141 ha; rừng trồng: 4. So với những năm gần đây, diện tích cũng nhƣ độ che phủ của rừng ở nƣớc ta có tăng song chất lƣợng rừng chƣa đƣợc nhƣ mong muốn. Một trong những nguyên nhân ảnh hƣởng tới diện tích và chất lƣợng rừng là cháy rừng.
Vì vậy, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) luôn nhận đƣợc sự quan tâm từ các cấp, các ngành và ngƣời dân. Trong vài thập kỷ gần đây, biến đổi khí hậu với những biến động bất thƣờng của thời tiết đã làm cho nguy cơ cháy rừng luôn tiềm ẩn và là mối đe dọa lớn. Hiện nay nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cháy rừng là do con ngƣời. Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là một trong những mô hình quản lý rừng đang thu hút sự quan tâm ở cấp Trung ƣơng và địa phƣơng.
Xét về mặt lịch sử, ở Việt Nam, rừng cộng đồng đã tồn tại từ lâu đời, gắn liền với sự sinh tồn và tín ngƣỡng của các cộng đồng dân cƣ sống dựa vào rừng. Đặc biệt, trong vài năm gần đây, xuất phát từ yêu cầu quản lý bảo vệ rừng, một số địa phƣơng đã triển khai giao đất, giao rừng cho cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.Ngoài ra, các cộng đồng còn tham gia nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng của các tổ chức Nhà nƣớc, tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia công tác quản lý bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng tích cực hơn. Thực tiễn một số nơi đã chỉ rõ vai trò của cộng đồng trong công tác quản lý bảo vệ rừng có ý nghĩa rất lớn, kể cả việc sử dụng và kiểm soát các vụ cháy rừng vì họ là ngƣời có điều kiện thuận lợi để kiểm soát và ngăn 1 chặn các đám cháy ở địa phƣơng.Cần có biện pháp lôi cuốn ngƣời dân tự giác tham gia vào công tác quản lý bảo vệ rừng nói chung và quản lý lửa rừng nói riêng thì hoạt động quản lý bảo vệ rừng sẽ đạt hiệu quả cao. Vƣờn Quốc gia Hoàng Liên đƣợc giao quản lý với tổng diện tích là 28.509,00 ha, là một trong những khu rừng đặc dụng quan trọng của Việt Nam.
Đƣợc Quỹ môi trƣờng toàn cầu xếp vào loại A, cao nhất về giá trị đa dạng sinh học của Việt Nam và đƣợc hiệp hội ASEAN công nhận là Vƣờn di sản ASEAN.Tuy nhiên, VQG Hoàng Liên cũng là trọng điểm cháy của cả nƣớc. Sự tham gia của ngƣời dân trong công tác QLBVR đã có những tiến bộ tích cực nhƣng vẫn còn rất nhiều hạn chế. Xuất phát từ sự cần thiết trong công tác PCCCR, Tôi đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu về sự tham gia của ngƣời dân trong công tác phòng cháy chữa cháy tại Vƣờn quốc gia Hoàng Liên”. 2 Chƣơng I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới 1. Một số khái niệm liên quan - Khái niệm Quản lý lửa rừng + Theo F.O[1]: Quản lý lửa rừng là mọi hoạt động cần thiết để bảo vệ rừng không bị cháy cùng với việc sử dụng lửa nhằm đáp ứng những mục tiêu trong quản lý và sử dụng đất đai. + Theo Schweinthelm – 1999[1]: Quản lý lửa về cơ bản là sự kết hợp các nỗ lực để duy trì lửa trong một chế độ cháy mong muốn. Một chế độ cháy là “ Tập hợp các đám cháy tự nhiên hoặc nhân tạo, xảy ra trong một khu vực xác định và trong một khoảng thời gian xác định, có tính đến tần xuất cháy, cƣờng độ từng đám cháy, mùa xảy ra cháy, phân bố các đám cháy trên toàn vùng và khoảng thời gian tính từ vụ cháy trƣớc đấy (Ủy ban BTTN của NSW, 2001)[1].
- Khái niệm Quản lý lửa rừng trên cơ sở tham gia của cộng đồng “Cộng đồng” đƣợc hiểu theo nghĩa rộng là tất cả ngƣời dân, từ một hộ gia đình, một nhóm hộ gia đình, một khu định cƣ, cho đến một nhóm các khu định cƣ. Quản lý lửa rừng trên cơ sở cộng đồng là mọi hoạt động cần thiết để bảo vệ rừng không bị cháy cùng với việc sử dụng lửa nhằm đáp ứng mục tiêu trong quản lý đất đai do cộng đồng thực hiện theo luật pháp và chính sách Nhà nƣớc[2]. Các hoạt động có sự tham gia của cộng đồng trong lĩnh vực quản lý lửa rừng theo nghĩa rộng bao gồm: Phòng cháy; Chữa cháy; Sử dụng lửa trong rừng và ven rừng an toàn, hiệu quả; Phục hồi rừng sau cháy[2].2 Những nghiên cứu về phòng cháy, chữa cháy rừng trên cơ sở cộng đồng tại các Quốc gia - vùng lãnh thổ Những kết quả nghiên cứu của Sameer Karki (2002)[12] cho thấy, những hoạt động PCCCR trên cơ sở cộng đồng đã đƣợc thực hiện ở nhiều quốc gia, đặc biệt các nƣớc trong khu vực Đông Nam Á nhƣ: - Campuchia: Nhằm đảm bảo rằng đám cháy trong nƣơng rẫy không lan ra những cánh đồng và khu rừng xung quanh, tất cả cây cối đã đƣợc chất thành đống ở giữa cánh đồng để đốt. Xung quanh nƣơng, các vật liệu cháy (VLC) đƣợc dọn sạch trong phạm vi 5m về phía rừng.
Việc đốt cây cối đƣợc tiến hành ngƣợc hƣớng gió để đốt cho kỹ và ngăn lửa khỏi lan ra ngoài vùng nóng hơn và sẽ đốt đƣợc dễ dàng hơn. Thƣờng những ngƣời già sẽ đảm nhiệm những công việc này vì họ có nhiều kinh nghiệm hơn. Ngƣời dân trong làng đƣợc cảnh báo trƣớc để họ có thể đề phòng bảo vệ cánh đồng của mình - Inđônêsia: Nhiều cộng đồng ở Inđônêsia đã thiết lập những cơ chế trừng phạt có hiệu quả đối với việc QLLR không tốt để gây ra những thiệt hại cho tài sản của cộng đồng dân cƣ xung qanh (Fay, 1997; Bangbang Soekartiko, 1997; Vayda,1999). Trong luật tục của dân làng Tenganan, Bali, Inđônêsia có một điều khoản trừng phạt bồi thƣờng thiệt hại cháy: “Nếu một trong những ngƣời dân trong làng đốt rừng, cháy rừng sẽ gây ảnh hƣởng thiệt hại đến rừng thì ngƣời đó sẽ bị xử phạt theo quy định về mức độ thiệt hại và ngƣời dó phải thực hiện nghi lễ thanh tẩy tôn giáo”.
Ở Nusa Tenggara, Timur việc sử dụng lửa đã giảm khi ngƣời dân du canh đã chuyển sang hệ thống thâm canh và mang tính thƣơng mại hơn. Fox (2000) cho rằng: việc chuyển đổi dần từ sản xuất nông nghiệp tự cung cấp sang sản xuất nông nghiệp thƣơng mại là một biện pháp khuyến khích việc kiểm soát lửa. - Thái Lan: Dự án Quản lý lƣu vực Thƣợng lƣu sông Nan ở Miền Bắc Thái Lan của cục Lâm nghiệp Hoàng gia (RFD) đƣợc cơ quan hợp tác về môi trƣờng và phát triển Đan Mạch (DANCED) trợ giúp. Dự án này đƣợc thực hiện tại 42 làng với số dân khoảng 20000 ngƣời, thuộc 5 dân tộc trên diệc tích 4 1.
Dự án này nhằm triển khai hệ thống ngăn ngừa và kiểm soát cháy rừng trên 160km². Trong thời gian cuối năm 1998 và đầu năm 1999, RFD và điều phối viên cộng đồng đã tạo điều kiện thành lập mạng lƣới làng bản lƣu vực sông tại các sông nhỏ nhằm làm giảm số lƣợng các vụ cháy ngoài tầm kiểm soát. Tháng 4 năm 1999 cho thấy đã giảm ít hơn 5% diện tích dự án đã bị cháy trong thời gian đó. Để làm đƣợc điều này, đã có sự kết hợp của một số nguyên nhân chính: + Xây dựng mạng lƣới làng bản lƣu vực cùng với các quy định, quy tắc, hình phạt của chính họ đối với việc gây ra cháy rừng.
+ Tăng cƣờng mạng lƣới thông tin bằng việc xây dựng đài phát và cung cấp bộ đàm, ba lô cho lực lƣợng phòng chống cháy rừng tình nguyện của bản làng + Có quỹ RFD để xây dựng các băng cản lửa và tuyển dụng nhân viên phòng cháy. + Trao tặng phần thƣởng về quản lý cháy rừng cộng đồng cho những làng bản thực hiện tốt nhất trong năm 1999. + Có cơ sở dữ liệu tốt hơn về quản lý cháy rừng từ những nghiên cứu của các điều phối viên cộng đồng, và ảnh vệ tinh Landsat về các khu vực bị cháy. + Lƣợng mƣa vào đầu tháng 2/1999, tháng 3/1999 nhiều nên đã hạn chế đƣợc nguy cơ cháy ở giai đoạn nguy hiểm.
Theo Hoare, 1999, tại tỉnh Chiangrai miền Bắc Thái Lan, một nhóm các gia đình Loi Mi Akha đã thành lập rừng cộng đồng Pakhsukjai vào năm 1976. Phần lớn rừng đƣợc bao phủ bởi cỏ tranh và tre. Ở đây, việc sử dụng lửa và canh tác đã bị cấm do dân làng xây dựng một số quy định. Để giảm nguy cơ cháy, dân làng đã xây dựng băng cản lửa mỗi năm trƣớc mùa khô.
Từ đó, nhóm công tác cộng đồng đƣợc thành lập, với đại diện mỗi gia đình để xây dựng băng cản lửa và sửa chữa thiết kế hàng rào (5/6 ngày/năm). Bất cứ gia đình nào không đóng góp lao động sẽ bị phạt. Đặc biệt, số tiền phạt sẽ cao hơn nếu nhƣ không có thành viên nào trong gia đình giúp sức khi cháy rừng xảy ra vào ban đêm. Khi 5 một cá nhân nào chặt cây bị phát hiện sẽ bị phạt một con lợn hoặc có thể kỷ luật các già làng trong bản.
Bảo vệ những cây có ích ở nƣơng rẫy khỏi bị cháy cũng đƣợc thấy ở những nhóm ngƣời khác nhƣ ngƣời Alaangn mangyan (Walpole et al,1994). Vì lửa sẽ làm giảm năng suất của nƣơng rẫy sẽ đƣợc khai phá trong tƣơng lai, nhƣ cộng đồng ngƣời Lua ở Thái Lan, đã tích cực kiểm soát và dập các đám cháy lan rộng (Kundstadter, 1978; Zinke et al. DENR cùng với lãnh đạo địa phƣơng và thành phố đã gây quỹ để quản lý cháy rừng là cơ chế “ Phần thƣởng không thể xảy ra cháy rừng”. Các cộng đồng trên vùng cao sẽ nhận đƣợc phần thƣởng này nếu họ duy trì đƣợc việc “ Không để xảy ra cháy rừng” trong khu vực của mình (Costalles et al.
Chƣơng trình nông lâm kết hợp ở Vueva Ecia đã khuyến khích dân làng thiết lập những băng cản lửa. Kết quả đã giảm đƣợc đáng kể vụ cháy rừng (Segura,1985). Enkiwe et al.