Tổng quan luận án

Công trình Nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng là luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Đinh Lựu, được bảo vệ năm 2002 tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Hạnh. Luận án thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 5.33.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Vũ Trọng Phụng có cuộc đời 27 năm tuổi đời với 9 năm cầm bút (1930 - 1939), để lại 71 tác phẩm thuộc nhiều thể loại. Trong lịch sử tiếp nhận văn học suốt gần 2/3 thế kỷ (từ 1930 đến 2002), các đánh giá về Vũ Trọng Phụng chủ yếu tập trung vào bình diện chính trị - xã hội hoặc tư tưởng mà ít đi sâu vào phương diện nghệ thuật. Việc tác phẩm từng bị đặt lên cán cân luận tội (về tư tưởng, vấn đề tình dục, thái độ chính trị) đã tạo ra những định kiến kéo dài.

Mặc dù từ thập niên 1980 và đặc biệt sau năm 1986 đã có nhiều công trình nghiên cứu nghệ thuật tiểu thuyết của ông, song các nghiên cứu trước đó thường tản mạn, chỉ tập trung vào một số khía cạnh riêng lẻ (nhân vật, ngôn ngữ, trào phúng, thời gian nghệ thuật) hoặc khu biệt ở ba tác phẩm tiêu biểu là Giông tố, Vỡ đê và Số đỏ. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần có một công trình khảo sát toàn diện, có hệ thống trên cấp độ tổng thể toàn bộ các tiểu thuyết để giải mã thi pháp nghệ thuật của nhà văn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu bao quát của luận án là xác lập một cái nhìn toàn diện, hệ thống về thi pháp nghệ thuật tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể gồm:

  1. Đặt tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng trong hoàn cảnh lịch sử - xã hội và đời sống văn học giai đoạn 1930 - 1945;
  2. Phân tích tư tưởng nghệ thuật, quan niệm sáng tác và xác lập mô hình tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng;
  3. Khảo sát thi pháp xây dựng cốt truyện, tình tiết và kết cấu truyện;
  4. Khảo sát thế giới nhân vật và các thủ pháp xây dựng nhân vật (ngoại hình, nội tâm, tính cách, hành động);
  5. Giải mã tọa độ không gian - thời gian nghệ thuật và đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ trần thuật, đối thoại, miêu tả).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ thi pháp nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng.
  • Phạm vi văn bản: Khảo sát toàn bộ 7 tiểu thuyết hoàn chỉnh của Vũ Trọng Phụng gồm: Dứt tình (1934), Giông tố (1936), Vỡ đê (1936), Số đỏ (1936), Làm đĩ (1936), Lấy nhau vì tình (1937), và Trúng số độc đắc (1938). Tác phẩm Người tù được tha được luận án xếp vào loại truyện vừa; tác phẩm Quý phái do đăng dang dở trên Đông Dương tạp chí (5 số, từ số 33 đến số 37, dung lượng khoảng 10 trang khổ lớn) nên không đưa vào diện khảo sát chính.
  • Phạm vi lịch sử: Không gian văn hóa - xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, trọng tâm là giai đoạn 1930 - 1945, kết hợp đối chiếu tiến trình tiếp nhận phê bình văn học từ năm 1930 đến năm 2002.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan lịch sử nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng dựa trên hai góc độ chính: tiến trình thời gian lịch sử và các phương diện nghệ thuật chuyên biệt.

Tiến trình tiếp nhận theo các giai đoạn lịch sử

Giai đoạn lịch sử Xu hướng tiếp nhận và các tác giả, công trình tiêu biểu
Trước Cách mạng Tháng Tám (1930 - 1945) Phân hóa thành hai luồng ý kiến:
- Phủ định, công kích: Nhất Chi Mai, Thái Phi, Lê Thanh, Mộng Sơn, Hiếu Chi (gắn với quan điểm lãng mạn của Tự Lực Văn Đoàn, chỉ trích yếu tố dâm uế và tư tưởng hắc ám).
- Khẳng định, đánh giá cao: Xuân Sa, Trương Chính, Nguyễn Thanh, Phùng Tất Đắc; số đặc biệt báo Tao Đàn (tháng 12/1939) với bài viết của Ngô Tất Tố, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Vỹ, Tam Lang, Thanh Châu, Lan Khai, Nguyễn Tuân, Trần Triệu Luật, Trương Tửu; Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (quyển 3).
Kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) Tác phẩm được đưa ra dẫn chứng tại Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (tháng 9/1949). Các tác giả khẳng định giá trị hiện thực: Vũ Bằng, Ngọc Giao, Nguyên Hồng, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi (so sánh giá trị phản ánh của Vũ Trọng Phụng với Balzac).
Kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975) - Ở miền Bắc: Văn Tâm công bố chuyên luận Vũ Trọng Phụng nhà văn hiện thực (1957, dài 236 trang, 7 chương). Giai đoạn xảy ra biến cố: sự việc nhóm Nhân Văn Giai Phẩm (1958) và bài viết của Hoàng Văn Hoan (1960, 24 trang) khiến tác phẩm Vũ Trọng Phụng không được in lại và giảng dạy suốt giai đoạn 1960 - 1982; Nguyễn Công Hoan và Nguyên Hồng lên tiếng bảo vệ.
- Ở miền Nam: Đánh giá thống nhất về giá trị hiện thực và xã hội qua các bài viết, công trình của Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Duy Diễn, Phan Nguyên, Bùi Ngọc Dung, Đỗ Long Vân, Nguyễn Văn Trung, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng.
Sau năm 1975 đến năm 2002 Không khí Đổi mới từ năm 1986 phục hồi vị thế văn học cho tác giả. Tiểu thuyết được tái bản (Vỡ đê năm 1982), chuyển thể phim ảnh (Số đỏ năm 1989, Giông tố năm 1991, Lấy nhau vì tình năm 1992); tổ chức các hội thảo kỷ niệm (1987, 1989, 1992, 2002); xuất bản các tuyển tập của Trần Hữu Tá, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Ngọc Thiện, Hà Công Tài; các nghiên cứu của Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Peter Zinoman (2002).

Các hướng nghiên cứu về phương diện nghệ thuật

Các công trình đi trước đã tiếp cận từng khía cạnh thi pháp:

  • Nghệ thuật trào phúng: Hoàng Thiếu Sơn, Hoàng Ngọc Hiến, Văn Tâm, Nguyễn Văn Dữ, Trần Đăng Thao, Nguyễn Quang Trung.
  • Ngôn ngữ nghệ thuật: Đỗ Đức Hiểu, Cù Đình Tú, Nguyễn Thị Minh Hương.
  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Đinh Trí Dũng, Văn Tâm, Đinh Thị Chúc.
  • Thời gian và nghệ thuật trần thuật: Bùi Văn Tiếng (thời gian nghệ thuật), Hoa Thị Thủy (nghệ thuật trần thuật).
  • Khuynh hướng thẩm mỹ: Nguyễn Thanh (chủ nghĩa tự nhiên), Hoàng Như Mai, Phan Cự Đệ, Phan Nguyên, Nguyễn Duy Diễn, Đỗ Long Vân, Trịnh Hiền Lương (chủ nghĩa hiện thực), Peter Zinoman (chủ nghĩa hiện đại).

Khoảng trống luận án giải quyết

Hầu hết các công trình trước năm 2002 chỉ tiếp cận từng khía cạnh biệt lập hoặc khảo sát giới hạn trên ba tác phẩm (Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ). Luận án của Đinh Lựu giải quyết khoảng trống này bằng cách tổng hợp, hệ thống hóa và mở rộng phạm vi khảo cứu ra toàn bộ 7 tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng để dựng nên bức tranh hoàn chỉnh về thi pháp tiểu thuyết của tác giả.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

  • Khái niệm tiểu thuyết: Vận dụng các quan niệm lý luận văn học của Nguyễn Xuân Nam, Doãn Quốc Sỹ và Nguyễn Thị Dư Khánh. Tiểu thuyết được nhìn nhận là một cấu trúc nghệ thuật tổng hợp gồm các yếu tố: cốt truyện, hệ thống nhân vật, bối cảnh không - thời gian, ngôn ngữ trần thuật và kết cấu.
  • Phân loại cốt truyện: Sử dụng khung phân chia của Lê Thị Hường và quan niệm của Guy de Maupassant về hai loại hình cốt truyện cơ bản: cốt truyện sự kiện (thiên về hành động bên ngoài, biến cố) và cốt truyện tâm lý (thiên về hành động bên trong, phân tích nội tâm).
  • Mô hình thể loại: Vận dụng lý thuyết về trường phái văn học tả chân (theo quan niệm của Thanh Lãng, Nguyễn Hoành Khung) và các mô hình tiểu thuyết phương Tây: tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết tâm lý - xã hội, tiểu thuyết gia đình, tiểu thuyết giáo dục khai tâm (roman d'éducation, roman d'apprentissage), tiểu thuyết bợm nghịch (roman picaresque), và tiểu thuyết nhiều kỳ đăng báo (roman feuilleton).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  1. Phương pháp lịch sử: Đặt các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng vào hoàn cảnh lịch sử - xã hội cụ thể của Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 dựa trên quan điểm văn học Mác - Lênin và nguyên lý giải thích văn học theo hoàn cảnh của Hippolyte Taine.
  2. Phương pháp hệ thống: Khảo sát từng tác phẩm như một tiểu hệ thống nằm trong chỉnh thể toàn bộ gia tài tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng; đặt mối liên hệ giữa các bộ phận cấu thành (cốt truyện, nhân vật, không - thời gian, ngôn ngữ) trong một cấu trúc toàn vẹn.
  3. Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu giữa tiểu thuyết tả chân của Vũ Trọng Phụng với dòng tiểu thuyết lãng mạn của Tự Lực Văn Đoàn, với các cây bút hiện thực cùng thời (Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao) và mở rộng so sánh với văn học phương Tây (Balzac, Victor Hugo, Dickens, Cervantes).
  4. Thao tác bổ trợ: Sử dụng các thao tác thống kê văn bản, phân loại, phân tích cấu trúc và tổng hợp tư liệu theo định hướng nghiên cứu văn học của Likhachov.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Văn bản 7 cuốn tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, hệ thống phóng sự, truyện ngắn, kịch bản, các bài tiểu luận tranh luận văn học của tác giả cùng hơn 200 tài liệu, bài báo, chuyên luận nghiên cứu phê bình từ năm 1930 đến năm 2002.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung

Chương này tái hiện bối cảnh lịch sử, xã hội và diện mạo đời sống văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, xác định vị trí của Vũ Trọng Phụng trong trường phái văn học tả chân.

  • Hoàn cảnh xã hội: Phân tích thực trạng xã hội thuộc địa nửa phong kiến với hai mâu thuẫn cơ bản (dân tộc và giai cấp). Các chính sách khai thác thuộc địa của Paul Doumer và Albert Sarraut làm thay đổi cấu trúc kinh tế, giai cấp và tâm lý xã hội. Tác động của các sự kiện lịch sử: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), phong trào Mặt trận Dân chủ (1936 - 1938), Cách mạng Tháng Tám (1945).
  • Tình hình văn học và tiểu thuyết: Giai đoạn 1930 - 1945 đánh dấu bước hoàn tất hiện đại hóa văn học. Báo chí và nhà xuất bản phát triển mạnh; diễn ra các cuộc bút chiến sôi nổi (Phan Khôi - Trần Trọng Kim, Phan Khôi - Tản Đà, Thơ mới - Thơ cũ, Nghệ thuật vị nghệ thuật - Nghệ thuật vị nhân sinh, Duy tâm - Duy vật). Tiểu thuyết phát triển với hai dòng chính: tiểu thuyết lãng mạn (Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo) và tiểu thuyết hiện thực phê phán (Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao).
  • Trường phái văn học tả chân và vị trí của tác giả: Trường phái tả chân không có tuyên ngôn chính thức nhưng quy tụ các cây bút hướng về hiện thực xã hội. Vũ Trọng Phụng xuất phát từ phóng sự (Cạm bẫy người, Cơm thầy cơm cô, Kỹ nghệ lấy Tây, Lục xì) chuyển sang viết tiểu thuyết tả chân, giữ vị trí then chốt trong dòng văn học hiện thực.
  • Toàn bộ sự nghiệp sáng tác: Thống kê gia tài gồm 71 tác phẩm: 8 tiểu thuyết, 1 truyện vừa, 41 truyện ngắn, 4 di cảo truyện ngắn (cùng 9 truyện ngắn năm 1934 do Peter Zinoman phát hiện), 8 phóng sự, 1 ký sự, 7 vở kịch, 1 bản dịch (Giết mẹ) và 13 bài văn chính luận.

Chương 2: Tư tưởng nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật, mô hình tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

Chương 2 đi sâu vào thế giới quan, quan niệm văn chương và phân loại mô hình thể loại tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng.

  • Tư tưởng nghệ thuật: Diễn biến tư tưởng của tác giả phản ánh sự căm hờn, phẫn uất trước trật tự bất công, nỗi bi quan hoài nghi về sự tha hóa của con người trong xã hội kim tiền, gắn liền với tinh thần nhân đạo và lòng xót thương đối với tầng lớp cùng khổ.
  • Quan niệm nghệ thuật: Tác giả khẳng định "văn chương là một phương tiện tranh đấu" để loại trừ bất công xã hội và đòi hỏi "tiểu thuyết là sự thực ở đời", kiên quyết đối lập với lối viết giả dối, thi vị hóa hiện thực của văn học lãng mạn đương thời.
  • Mô hình tiểu thuyết 4 thành tố:
    1. Tiểu thuyết tả chân xã hội: Tái hiện chân thực bức tranh thành thị nhố nhăng (phong trào Âu hóa, vui vẻ trẻ trung) và nông thôn bần cùng, vạch trần bản chất các tầng lớp thống trị, tư sản, thực dân và tay sai.
    2. Tiểu thuyết phanh phui cái xấu, cái ác: Sử dụng ngòi bút như vũ khí vạch trần các thủ đoạn bóc lột, sự dâm loạn, lừa bịp núp bóng văn minh qua các nhân vật như Nghị Hách (Giông tố), Xuân Tóc Đỏ, Phó Đoan (Số đỏ).
    3. Tiểu thuyết của nỗi đau đời và lòng xót thương: Thể hiện lòng đồng cảm sâu sắc với thân phận người nông dân bị áp bức (gia đình cụ Cử trong Vỡ đê), phụ nữ bị đẩy vào con đường mại dâm (Huyền trong Làm đĩ), thợ thuyền và thị dân nghèo.
    4. Tiểu thuyết trào phúng châm biếm, đả kích: Sử dụng tiếng cười châm biếm, hoạt kê sâu cay nhằm đả phá tận gốc trật tự xã hội phi lý (Số đỏ, Trúng số độc đắc).
  • Sự kết hợp các kiểu loại tiểu thuyết: Các tác phẩm của ông là sự tích hợp đa dạng của các dạng thức tiểu thuyết phương Tây: Vỡ đê kết hợp tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết giáo dục khai tâm (roman d'apprentissage) và tiểu thuyết xã hội; Số đỏ mang cấu trúc tiểu thuyết trào phúng - bợm nghịch (roman picaresque); Làm đĩ là tiểu thuyết luận đề; đồng thời hầu hết tiểu thuyết mang đặc điểm của tiểu thuyết nhiều kỳ đăng báo (roman feuilleton).

Chương 3: Nghệ thuật xây dựng cốt truyện, tình tiết trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

Chương này phân tích kỹ thuật kiến tạo cốt truyện và tổ chức tình tiết.

  • Các loại hình cốt truyện: Phân tích sự đan xen giữa cốt truyện sự kiện (vận động qua các biến cố, xung đột xã hội dồn dập, đa tuyến trong Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ) và cốt truyện tâm lý (theo dõi diễn biến nội tâm phức tạp, sự tha hóa nhân cách trong Trúng số độc đắc, Làm đĩ, Dứt tình).
  • Mô-típ cốt truyện: Khảo sát các mô-típ cốt lõi như mô-típ lưu manh hóa, mô-típ tha hóa vì tiền bạc, mô-típ trúng số đổi đời, mô-típ bi kịch gia đình và mô-típ tố tụng, xử kiện.
  • Nghệ thuật xây dựng tình tiết và mạch truyện: Hệ thống tình tiết được tổ chức chặt chẽ theo quan hệ nhân quả và kết cấu móc xích. Các tình tiết mang tính kịch, bất ngờ, kết hợp các màn ngộ nhận và nút thắt liên hoàn, tạo sức lôi cuốn đặc trưng của thể loại tiểu thuyết đăng báo nhiều kỳ.

Chương 4: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

Chương 4 khảo sát hệ thống nhân vật và các thủ pháp xây dựng tính cách điển hình.

  • Thế giới nhân vật và cách tiếp cận: Phân loại các nhóm nhân vật đa dạng trong xã hội thuộc địa: tầng lớp thống trị - trọc phú (Nghị Hách), tầng lớp thị dân học đòi Âu hóa (Văn Minh, Typn, cô Tuyết), tầng lớp lưu manh hãnh tiến (Xuân Tóc Đỏ), và tầng lớp người lao động nghèo khổ (Mịch, Long, Phú, cụ Cử, Huyền).
  • Thủ pháp khắc họa nhân vật:
    • Miêu tả ngoại hình: Sử dụng nét vẽ biếm họa, phóng đại, làm nổi bật bản chất dị dạng về nhân cách qua diện mạo bên ngoài.
    • Miêu tả nội tâm: Khắc họa những giằng xé tâm lý, quá trình tha hóa nhân tính dưới áp lực của đồng tiền và hoàn cảnh sống.
    • Miêu tả tính cách và hành động: Xây dựng tính cách thông qua các chuỗi hành động mang tính xung đột gay gắt, khắc họa các mẫu hình điển hình cho sự tha hóa đạo đức.

Chương 5: Không gian, thời gian nghệ thuật. Ngôn ngữ nghệ thuật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

Chương 5 khảo sát các thành tố thi pháp về không - thời gian và ngôn ngữ văn xuôi.

  • Không gian - thời gian nghệ thuật:
    • Không gian nghệ thuật: Sự tương phản giữa không gian đô thị tư sản lai căng, tranh tối tranh sáng với không gian nông thôn u tối, ngập tràn đói nghèo, vỡ đê và dịch bệnh.
    • Thời gian nghệ thuật: Thời gian sự kiện dồn dập, thời gian tâm lý và sự dịch chuyển linh hoạt của trục tọa độ không - thời gian trong cấu trúc trần thuật.
  • Ngôn ngữ nghệ thuật:
    • Ngôn ngữ người kể chuyện: Giọng điệu đa thanh, biến hóa từ mỉa mai, trào phúng, đả kích cay độc đến xót xa, thương cảm.
    • Ngôn ngữ đối thoại: Cá tính hóa ngôn ngữ nhân vật rõ nét, phù hợp với tầng lớp xã hội và tâm lý của từng hạng người.
    • Đặc điểm ngôn ngữ: Vận dụng linh hoạt khẩu ngữ, thành ngữ, điệp từ, điệp ngữ và các cấu trúc câu văn mang nhịp điệu dồn dập, giàu kịch tính.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 4 đóng góp khoa học chính:

  1. Xác lập cái nhìn tổng quan, toàn diện: Đưa ra cái nhìn tổng thể về tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng thông qua việc khảo cứu đồng bộ 7 cuốn tiểu thuyết thay vì chỉ khảo sát các tác phẩm quen thuộc (Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ).
  2. Hệ thống hóa thi pháp thể loại: Khảo cứu có hệ thống từ hoàn cảnh lịch sử, tư tưởng nghệ thuật, quan niệm sáng tác, mô hình thể loại cho đến các phương diện thi pháp cụ thể (cốt truyện, tình tiết, nhân vật, không - thời gian và ngôn ngữ).
  3. Đề xuất góc độ tiếp cận: Xem xét nhân vật toàn diện qua 4 bình diện (ngoại hình, nội tâm, tính cách, hành động) và phân tích ngôn ngữ ở đa góc độ (ngôn ngữ kể, tả, đối thoại).
  4. Khẳng định đóng góp hiện đại hóa văn học: Chỉ ra những cách tân của Vũ Trọng Phụng trong việc sử dụng thành ngữ, điệp ngữ, nghệ thuật trào phúng và tổ chức kết cấu, góp phần thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa nền tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt trước năm 1945.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án khu biệt phạm vi khảo sát ở 7 cuốn tiểu thuyết hoàn chỉnh, chưa đi sâu phân tích tác phẩm Người tù được tha (xếp loại truyện vừa) và bản thảo dang dở Quý phái (5 số báo). Việc tiếp cận văn bản dựa trên các nguồn tư liệu được xuất bản đến năm 2002.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh liên văn bản giữa tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng với các trào lưu tiểu thuyết hiện đại thế giới (chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa hiện đại phương Tây theo hướng gợi mở của các học giả quốc tế), đồng thời tiếp tục giải mã các ẩn số thi pháp trong toàn bộ di sản báo chí và văn xuôi của tác giả.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Văn học Việt Nam: Luận án cung cấp khung phương pháp luận hệ thống về thi pháp học tiểu thuyết, mô hình hóa thể loại và kỹ thuật khảo sát lịch sử tiếp nhận tác gia văn học.
  • Đối với giảng viên và sinh viên ngành Ngữ văn: Cung cấp nguồn tư liệu phân tích chi tiết về 7 tác phẩm tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, đặc biệt hữu ích cho các chuyên đề văn học hiện thực 1930 - 1945.
  • Các phần đáng tham khảo nhất:
    • Phần tổng quan lịch sử vấn đề tiếp nhận Vũ Trọng Phụng qua các giai đoạn lịch sử (Chương mở đầu);
    • Khung mô hình tiểu thuyết 4 thành tố (Chương 2);
    • Phân tích thủ pháp xây dựng nhân vật và đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật (Chương 4 và Chương 5).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát chính xác bao nhiêu cuốn tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng và vì sao loại trừ một số tác phẩm?

Luận án khảo sát toàn bộ 7 cuốn tiểu thuyết hoàn chỉnh của Vũ Trọng Phụng gồm: Dứt tình, Giông tố, Vỡ đê, Số đỏ, Làm đĩ, Lấy nhau vì tình, và Trúng số độc đắc. Tác phẩm Người tù được tha được luận án xếp vào loại truyện vừa, còn tác phẩm Quý phái chỉ đăng dang dở được 5 số trên Đông Dương tạp chí (từ số 33 đến số 37, khoảng 10 trang khổ lớn) nên không đưa vào diện khảo sát chính.

2. Tiến trình tiếp nhận văn nghiệp Vũ Trọng Phụng từng trải qua những biến cố lịch sử cụ thể nào?

Tiến trình tiếp nhận trải qua ba sự cố lớn:

  1. Sự công kích từ nhóm Tự Lực Văn Đoàn trước năm 1945 do đối lập khuynh hướng thẩm mỹ (tả chân xã hội đối lập lãng mạn);
  2. Sự việc năm 1958 khi nhóm Nhân Văn Giai Phẩm đề cao Vũ Trọng Phụng khiến tác phẩm của ông bị đánh giá thiên lệch về mặt chính trị;
  3. Bài viết dài 24 trang của Hoàng Văn Hoan gửi Tạp chí Văn học năm 1960 khiến tác phẩm của Vũ Trọng Phụng không được tái bản và không được đưa vào giảng dạy trong nhà trường suốt 22 năm (1960 - 1982). Đến sau năm 1986, tác phẩm mới được đánh giá khách quan trở lại.

3. Mô hình tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng được luận án xác lập gồm những thành tố nào?

Luận án xác lập mô hình tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng gồm 4 thành tố kết hợp:

  • Tiểu thuyết tả chân xã hội;
  • Tiểu thuyết phanh phui cái xấu, cái ác;
  • Tiểu thuyết của nỗi đau đời và lòng xót thương;
  • Tiểu thuyết trào phúng châm biếm, đả kích.

4. Vũ Trọng Phụng đã khẳng định quan niệm về văn chương và tiểu thuyết như thế nào trong các cuộc tranh luận?

Vũ Trọng Phụng khẳng định: "văn chương là một phương tiện tranh đấu" nhằm loại bỏ bất công xã hội và đánh thức lòng xót thương với người yếu thế. Về thể loại, ông tuyên bố: "Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi với các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời", kiên quyết phản ánh đúng sự thật thay vì phục vụ sự giả dối, thi vị hóa hiện thực.


Kết luận

Luận án Nghệ thuật tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng của Đinh Lựu là công trình nghiên cứu toàn diện về thi pháp tiểu thuyết của một tác gia tiêu biểu trong văn học Việt Nam hiện đại trước năm 1945. Bằng việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu lịch sử, hệ thống và so sánh, luận án đã làm sáng rõ tư tưởng nghệ thuật, xác lập mô hình thể loại và phân tích các phương diện cốt truyện, nhân vật, không - thời gian cùng ngôn ngữ nghệ thuật trên toàn bộ 7 tiểu thuyết của tác giả. Công trình góp phần giải tỏa các định kiến lịch sử, cung cấp một hệ thống luận điểm khoa học có giá trị tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.