CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG 1. Hoàn cảnh xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, đặc biệt giai đoạn 1930 - 1945 Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX từ một xã hội phong kiến trở thành xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Trong xã hội, hai mâu thuẫn cơ bản ngày càng trở nên sâu sắc: mâu thuẫn dân tộc với chủ nghĩa dé quốc, mâu thuẫn giữa nhân dân ta (chủ yếu là nông dân) với giai cấp địa chủ phong kiến. Về chính trị, triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp.
Pháp đặt ra chính sách độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị. Bộ máy cai trị từ thống sứ, khâm sứ, thống đốc, công sứ, cảnh sát trưởng, chánh án đến giám ngục đều do Pháp năm giữ. Một mặt, chúng đặt chính sách cai trị hà khắc lên dân ta, mặt ,khác chúng biến giai cấp phong kiến, bọn tư sản mại bản thành công cụ, tay sai đắc lực cho chúng. Tình trạng xã hội như vậy đẻ ra nhiều bi kịch không chỉ với cá nhân, gia đình mà với mọi tầng lớp xã hội.
Ở nông thôn người nông dân vốn đã khổ nay lại càng khổ hơn. Đói rét, bệnh tật, sự nhũng nhiễu hà thu lam bồ của bọn quan lại đã biến họ thành những con người “bất thành nhân dạng”. Ở thành thị, lối sống “âu hóa”, “vui vẻ trẻ trung” đã thâm nhập vào từng người, gõ cửa từng gia đình tạo sự nhốn nháo, lộn tùng phèo vê lôi sông và đạo đức. Cũng nên nhắc lại hiệp ước 1884 đã chấm dứt nhà nước phong kiến Việt Nam, đặt nền móng đô hộ của thực dân Pháp.
Đến đầu thế kỷ XX thì sự đô hộ đã đi vào qui cũ chặt chẽ. Với chính sách khai thác thuộc địa của những tên cầm quyền Paul Doumer (lần thứ nhất), Albert Sarraut (lần thứ hai) đã làm thay đổi mọi cơ tầng của đời sống xã hội Việt Nam: “Co cau kinh tế thay đổi. Cơ cấu giai cấp -xã hội thay đồi. Văn hóa - giáo dục thay đổi.
Tư tưởng - tâm lý thay đôi. Nghệ thuật - văn chương thay đổi. Mọi sự thay đổi chi làm giàu cho “chính quốc”, làm lợi cho thực dân và biến tất cả mọi thứ thành phương tiện bóc lột tran áp: “Rượu côn và thuôc phiện cùng báo chí phản động của bọn câm quyên bô sung cho cái công cuộc ngu dân của chính phủ. Máy chém và nhà tù làm nôt công việc còn lại.
Đặc biệt giai đoạn 1930 - 1945 một sự kiện lịch sử trọng đại trong đời sống chính tri - xã hội là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930). Tác động chính trị - xã hội đối với văn nghệ sĩ là nhân tố khách quan, do vậy cũng cần đặc biệt lưu ý đến các thời điểm, các mốc lịch sử quan trọng xảy ra trong hơn nửa đầu thế kỷ: 23 1930 - 1931 : Cao trào cách mạng đang lên. 1932 - 1934 : Cách mạng ở giai đoạn thoái trào. 1936 - 1938 : Mặt trận dân chủ Đông Dương, Hội truyền bá quốc ngữ (theo sáng kiến của Đảng), báo chí công khai của Đảng và Mặt trận dân chủ ra đời.
19 /8/ 1945 : Cách mang tháng tám thành công. 2/9/ 1945 : Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoa. 19/2/1946 : Hồ Chủ Tịch kêu gọi toàn quốc kháng chiến. 7/5/1954 : Chiến thang Điện Biên Phủ.
20/7/1954: Hội nghị Gio - ne - vơ, ta giành được độc lập, chủ quyền. Riêng với Vũ Trọng Phụng, cuộc đời quá ngắn ngủi, chỉ hơn một phần tư thế kỷ sống (1912 - 1939), mới sinh ra thì “nước đã mat, dân đã làm nô lệ” và đã phải chứng kiến nhiều biến cố chính trị dồn dập: đôi thay ba đời vua (Duy Tân: 1907 - 1916, Khai Định: 1916 - 1925, Bao Dai: 1926 - 1945), bốn cuộc khởi nghĩa chống Pháp (Yên Thế: 1887 - 1913, Thái Nguyên của đội Can: 1917 - 1918, Lạng Sơn của đội Ấn: 1912, Yên Bái: 1930). Đặc biệt là cuộc khủng bồ trắng của thực dân Pháp 1932 tạo ra một không khí xã hội ngột ngạt, buồn chán hơn bao giờ hết. Trong hoàn cảnh xã hội chính trị như vậy của nửa đầu thế kỷ có ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng.
Tình hình văn học giai đoạn 1930 -1945 Văn chương cô điển Việt Nam đã trải qua mười thế ky. Mở dau thé kỷ XX đồng thời cũng là mở đầu của nền văn chương hiện đại. Trong tiễn trình hiện đại hóa, ba mươi năm đầu của thế kỷ XX (1900 - 1930) các thể loại thơ, văn xuôi (tiểu thuyết, ký sự, luận thuyết, thông tan), kịch có mặt nhiều trên sách, báo. Đặc biệt sự ra đời của hàng loạt tờ báo (Đông Dương tạp chí, Trung Bắc Tân văn - năm 1913; Nam Trung nhật báo, Nam Phong tạp chí - năm 1917.) tạo điều kiện cho văn học phát triển: “Báo chí đúng là trường rèn luyện quốc văn” [23, tr.
Sự cách tân thê loại trong giai đoạn này phải kê đến thơ có Tan Đà, Phan Khôi; tiểu thuyết có Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh; kịch có Vũ Đình Long, Nam Xương v. Nhưng giai đoạn 1900 - 1930 mới là sự chuyền mình, phải đến những năm 1930 - 1945 sự hiện dai của văn chương Việt Nam mới ở 24 giai đoạn hoàn thành (hiện đại về nội dung, hình thức, tư tưởng, nghệ thuật). Ta hãy xem tình hình văn học trong giai đoạn 1930 - 1945 có những bước phát triển như thế nào. Trong những năm ba mươi nhiều hiện tượng văn học xảy ra dồn dập.
Tờ Nam Phong tạp chí đình bản (Phạm Quỳnh thôi chủ nhiệm năm 1932, đình bản năm 1934) mà theo Thanh Lãng: “Muốn hiểu văn học Việt Nam hồi nay không gì tốt bang nhìn vào Nam Phong [.] Nam Phong là tất cả của văn học thế hệ 1913 - 1932 [.] nếu đem đốt hết Nam Phong đi thì nền văn học thế hệ 1913 - 1932, có thé nói là rỗng tuéch” [78, tr. Tiếp đến những bậc đàn anh trong văn học, như Nguyễn Bá Ngọc, Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Trọng Thuật v. rút lui vào hậu trường và trở thành những “thượng thư lỗi thời” trong văn học để nhường chỗ cho thế hệ nhà văn mới có đầu óc, tư tưởng cải tiến: hoài nghi mọi nền nếp xã hội, mọi giá tri cô truyền, muốn đặt lại mọi van dé liên quan đến con người, đến xã hội. Họ đoạn tuyệt, thoát ly khỏi những ràng buộc từ ngàn xưa của luân lý Không Mạnh về gia đình, cá nhân, xã hội.
Họ chống đối không chỉ những tàn dư của chế độ xã hội cũ đã ăn sâu bám rễ vào đời sống mà còn kịch liệt chia mũi nhọn đấu tranh vào chế độ xã hội đương thời: chế độ thuộc địa, nửa phong kiến. Bên canh bộ mặt của bọn cường hảo địa chủ như Nghị Qué (Tat đèn), Nghị Lại (Bước đường cùng), Nghị Đà (Những ngày vui) còn có bộ mặt của bọn địa chủ, tư sản công nghiệp (Nghị Hách), bọn hãnh tiễn làm tay sai cho thực dân và cả bọn thực dân (trong tác phẩm Giông to, Vo dé. của Vũ Trọng Phung). Trước 1930 các nha văn viết văn in trên báo, viết báo chứ chưa viết sách, in sách.
Giai đoạn này đã có nhà xuất bản nên hoạt động văn học sôi nổi hn lên. Các thé loại văn học phát triển mạnh. Kịch thoát ly khỏi loại kịch cô điển, đơn điệu, không thé hiện được chiều sâu tâm lý, nội tâm. “Lòng rỗng không” của Đoàn Phú Tứ đã lột tả tâm lý, tính tình của một cô gái mới.
Thế Lữ, Khái Hưng, Vũ Hoàng Chương có những đóng góp đáng ké vào thé loại này. Tho cũng có bước phát triển rằm rộ, tăng cả về lượng và chất. Số người làm thơ ngày một nhiều và có cuộc cách mạng về thơ ca: ý mới, lời mới, số câu, số chữ, cách giao vần đến tiết tấu, âm điệu. cũng có sự đổi khác, cái “tôi” được đề cao, giải phóng.
Ngoài những nhà thơ lãng mạn Thanh Tịnh, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư. xuất hiện những nhà thơ tả chân Bàng Bá Lân, Tế Hanh, Anh Thơ. Đặc biệt thơ ca cách mạng xuất hiện từ sau 1930 khá phong phú với những tác giả tên tuổi như Tố Hữu, Sóng Hồng. Chỉ riêng hoạt động phê bình cũng làm cho diện mạo văn học giai đoạn này trở nên khác han.
Hoạt động phê bình không chỉ đứng riêng lẻ mà họp thành nhóm bênh vực cho chủ 25 trương tôn chỉ, mục đích của nhóm mình. Có thé ké đến nhóm cựu học (gồm những nhà văn lớp trước như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Trọng Thuật, Trần Trọng Kim, Tản Đà, Phan Khôi.), nhóm Phong Hoa (cấp tiến, phê phán đả kích nhóm cựu học như Nhat Linh, Thach Lam, Thé Lt, Hoang Dao.), nhom đối lập với Phong Hoa (Lê Tràng Kiều, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Trương Tửu, Lê Thanh) và nhóm duy vật (Hải Triều, Hải Thanh, Hồ Xanh, Thạch Đông, Thành Lâm). Các cuộc bút chiến kéo dài, thường xuyên trên báo. Có thé kể: + Bút chiến giữa Phan Khôi - Trần Trọng Kim: Với bài Đọc cuốn Nho giáo của Tran Trọng Kim của Phan Khôi.
+ Bút chiến giữa Phan Khôi - Tản Đà: Tổng nho với phụ nữ của Phan Khôi. Tản Đà đập lại: Một cdi tai nạn lưu hành ở Nam Kỳ: Phan Khôi. + Bút chiến về thơ mới và thơ cũ: Những bài bênh vực thơ mới đăng trên báo Phong Hoa của những tác giả như: Lưu Trọng Lư, Nguyễn Thị Kiên, Vũ Đình Liên, Trương Tửu, Lê Tràng Kiều, Đỗ Đình Vượng. Bênh vực thơ cũ đăng trên Văn học tạp chí, Văn học tuần san có Tản Đà, Huynh Thúc Kháng, Thái Phi, Hoàng Duy Tứ, Nguyễn Văn Hanh.
+ Bút chiến giữa nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vi nhân sinh: kéo dài từ 1935 - 1939 đăng trên Tiểu thuyết Thứ Bảy, Đời Mới, Tràng An v. giữa Thiếu Sơn, Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều (phái nghệ thuật vị nghệ thuật) với Hải Triều, Hải Thanh, Hồ Xanh. + Bút chiến về duy tâm - duy vật: Đăng trên các báo Đông Dương, Đông Phương, Phụ nữ Thời đàm, Phụ nữ Tân văn, Tiến bộ giữa Phan Khôi với Hải Triều, Thành Lâm, Hồ Xanh. Trong hoạt động phê bình cũng có xu hướng rõ rệt như phê bình xã hội, văn học sử, duy vật.
So với sự nở rộ của hàng loạt các hoạt động văn học vừa nêu, trên lĩnh vực tiêu thuyêt giai đoạn này cũng không mấy kém. Ta đi sâu phân tích trong phần sau. Tình hình tiểu thuyết giai đoạn 1930 - 1945 Trước 1930 lịch sử phát triển của tiêu thuyết có bước tiến khá chậm chạp.