Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG LIÊN DOANH 1. Quá trình ra đời, phát triển của Ngân hàng liên doanh và mô hình ngân hàng liên doanh Hiện nay, các nhà khoa học và các nhà kinh tế đều cho rằng: “Hoạt động ngân hàng hình thành và phát triển cùng với sự hình thành đời sống kinh tế và xã hội của loài người”. Ngân hàng đã bước đi từng bước cực kỳ thô sơ (như hình thức bancus) và dưới những tác động của nhu cầu phát triển xã hội, nền kinh tế, đã thúc đẩy ngân hàng không ngừng được hoàn thiện. Xã hội càng phát triển thì hoạt động của ngân hàng càng trở nên đa dạng hơn.
Giai đoạn lịch sử phát triển đầu tiên của hoạt động ngân hàng được gọi là “giai đoạn sơ khai của các ngân hàng” xuất hiện vào thời Hy Lạp, đế quốc La Mã…Điển hình là hoạt động của các nhà đổi tiền Hy Lạp (Iraperita) nhận tiền của giai cấp quý tộc, người giàu có…và cho các thương gia vay. Đây là hoạt động mua bán, trao đổi vay tiền sơ khai đầu tiên. Đồng thời, nó cũng dẫn đến sự ra đời của thuật ngữ “ ngân hàng” (xuất phát từ chữ Latinh Bancus). Giai đoạn phát triển thứ hai của lịch sử ngân hàng bắt đầu từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XVII với nhiều hoạt động mới được áp dụng.
Hoạt động ngân hàng tiến bộ rất nhiều so với ngân hàng sơ khai như sự xuất hiện của nghiệp vụ áp dụng phương pháp bù trừ trong thanh toán, nghiệp vụ chuyển ngân…Thế kỷ XVII ngân hàng bước vào giai đoạn ba với việc mạnh dạn cho vay tạo ra những khoản tiền mới và lưu thông, nghĩa là ngân hàng đã “tham gia vào hoạt động cung ứng tiền”. Đồng thời là sự ra đời của một loạt các ngân hàng như ngân hàng Anh ở Luân Đôn Ngân hàng lớn nhất thế giới cuối thế kỷ XVII, ngân hàng Đông Phương của Anh ở Trung Quốc, ngân hàng Đông Dương của Pháp thành lập tại Việt Nam (Thế kỷ XIX)… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong thời đại ngày nay, hoạt động ngân hàng rất đa dạng, các thao tác trong từng nghiệp vụ ngân hàng lại rất phức tạp và luôn biến động theo sự phát triển chung của nền kinh tế. Mặt khác, do tập quán pháp luật của mỗi quốc gia khác nhau nên đến nay vẫn chưa có sự đồng nhất trong khái niệm ngân hàng. Theo pháp luật Việt Nam, khái niệm ngân hàng được hiểu là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng (Khoản 2 Điều 4 Luật các TCTD).
Từ quy định này có thể thấy, ngân hàng tại Việt Nam có các đặc điểm sau: là loại hình tổ chức tín dụng tiến hành các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận; nội dung hoạt động thường xuyên và chủ yếu của nó là nhận tiền gửi có hoàn trả và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng; ngân hàng thực hiện các dịch vụ thanh toán và cung ứng các dịch vụ ngân hàng khác theo quy định. Như vậy, khái niệm ngân hàng được sử dụng như một thuật ngữ để nói đến các tổ chức làm chức năng thu nhận tiền gửi của công chúng và đem số tiền đó cho người khác vay nhằm thu lợi nhuận. Nền kinh tế của một nước càng phát triển thì vai trò của hệ thống ngân hàng càng có tầm quan trọng đặc biệt. Vai trò của ngân hàng được xác định trên cơ sở các chức năng và các nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn.
Qua việc nghiên cứu các chức năng của ngân hàng như chức năng trung gian tín dụng, chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán. Ta thấy vai trò của ngân hàng được thực hiện ở hai mặt là thực thi chính sách tiền tệ đã được hoạch định bởi Ngân hàng Trung ương và góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính và dịch vụ ngân hàng; thực hiện trung gian thanh toán các nguồn vốn cho nền kinh tế thị trường; thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển; góp phần hình thành và phát triển thị trường chứng khoán; phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xu hướng hợp tác kinh tế quốc tế là một nhu cầu tất yếu đối với phát triển kinh tế trong điều kiện cơ chế thị trường, đặc biệt với các nước đang phát triển. Cách mạng công nghiệp đã cho ra đời một nền công nghiệp mới và dần thay thế công nghệ truyền thống.
Các nước phát triển đang chuyển tỷ trọng từ công nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại, dựa vào tri thức và thông tin. Nền kinh tế không hướng theo chiều rộng mà hướng tới phát triển theo chiều sâu. Tình hình đó làm phát sinh nhu cầu bức thiết là đòi hỏi các nước phải mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế để tiếp nhận công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại, thúc đẩy sản xuất, công nghiệp hoá đất nước. Hợp tác kinh tế quốc tế được mở rộng trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống trong đó có hợp tác kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, không một hoạt động kinh tế nào không liên quan tới hoạt động tài chính và tín dụng, giám sát và điều tiết thông qua hệ thống tiền tệ. Ngân hàng được coi là một bộ phận của hạ tầng cơ sở trong nền kinh tế. Thứ nhất, để ổn định và phát triển kinh tế trong điều kiện cơ chế thị trường thì vị trí của tiền vốn và vai trò của ngân hàng hết sức to lớn. Tiền vốn với vai trò thúc đẩy sản xuất, mở rộng giao lưu hàng hoá phải luôn ổn định, đủ tín nhiệm cả đối ngoại lẫn đối nội và ngân hàng cần được tổ chức thành một hệ thống, có mặt ở khắp nơi để kế toán, kiểm soát trên phạm vi toàn quốc, thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của ngân hàng đối với quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng.
Thứ hai, trong nền kinh tế hướng ngoại, giao lưu và hợp tác kinh tế phát triển thì mọi hoạt động kinh tế đối ngoại (xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài…) đều trực tiếp phụ thuộc và liên quan mật thiết vào hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là quan hệ đối ngoại của ngành ngân hàng. Ngân hàng là trung tâm thanh toán điều hoà và cho vay vốn bảo đảm khả năng chi trả cho các nhà xuất nhập khẩu. Trong hoạt động xuất nhập khẩu, ngân hàng cũng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đóng vai trò là người tài trợ cùng tham gia hợp tác kinh doanh với các nhà xuất nhập khẩu, là trung tâm tư vấn cho các nhà xuất nhập khẩu trong quá trình hoạt động, ngân hàng là cầu nối quan trọng giữa các nhà xuất nhập khẩu trong và ngoài nước, từ đó thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu phát triển. Trong hoạt động đầu tư trực tiếp, ngân hàng tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư từ khâu hình thành dự án đầu tư (thực hiện nghĩa vụ môi giới, tham gia thẩm định các dự án đầu tư), đến khi dự án được triển khai (như mở tài khoản, chuyển vốn đầu tư…), xí nghiệp đi vào hoạt động (hoạt động thanh toán, chuyển tiền…), xí nghiệp hết thời hạn hoạt động hoặc giải thể (chuyển vốn, thanh lý tài sản xí nghiệp…).
Ngân hàng tham gia vào hoạt động đầu tư gián tiếp thông qua việc tham gia vào thị trường chứng khoán hoặc cung cấp vốn, hùn vốn đầu tư… Từ xu thế phát triển của thế giới, vai trò quan trọng đặc biệt của ngân hàng trong nền kinh tế; ta nhận thấy phát triển kinh tế trong điều kiện mở cửa, giao lưu hợp tác kinh tế quốc tế thì trước hết phải phát triển hệ thống ngân hàng, mở rộng hoạt động của ngành ngân hàng trong đó có các hoạt động đối ngoại và sự hợp tác kinh tế quốc tế của ngành ngân hàng. Sự phát triển và vận động này của ngân hàng đã dẫn đến những hình thức ngân hàng mới như chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh… Vấn đề quan tâm đầu tiên của nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một nước cụ thể là hệ thống ngân hàng nước đó có đủ uy tín hay không? Ngân hàng nước họ đã xuất hiện chưa và họ sẽ được hỗ trợ gì?. Chính vì vậy, sự xuất hiện của các ngân hàng nước ngoài dưới hình thức chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh giữa ngân hàng trong nước với ngân hàng nước ngoài, trong giai đoạn đầu của quá trình mở cửa, là một xu hướng phổ biến, giải quyết được những khúc mắc của các nhà đầu tư nước ngoài, từ đó thu hút đầu tư nước ngoài. Hầu hết các nước đang phát triển khi bước vào thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; hệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống ngân hàng còn chưa đủ mạnh, chưa đáp ứng được nhu cầu vốn cho sự phát triển kinh tế.
Vì thế, cần phải thực hiện hiệu quả việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Ngân hàng liên doanh được thành lập nhằm tạo ra một ngân hàng có sức mạnh tổng hợp trên cơ sở khắc phục những yếu kém của ngân hàng trong nước, phát huy thế mạnh của ngân hàng nước ngoài, góp phần cải thiện môi trường đầu tư và tạo điều kiện cho việc đổi mới hệ thống ngân hàng tại các nước này. Ngân hàng liên doanh là kết quả của sự hợp tác về mặt kinh tế giữa Chính phủ và Ngân hàng Trung ương của các nước với nhau, mở ra cơ hội hợp tác giữa hai cơ chế kinh tế, hai hệ thống tài chính. Ngân hàng liên doanh là một loại hình ngân hàng mà trong đó có sự tham gia hợp tác liên doanh giữa ngân hàng thương mại trong nước với ngân hàng nước ngoài trên cơ sở góp vốn để hình thành nên một ngân hàng thương mại mới, có tư cách pháp nhân và hoạt động theo pháp luật của nước sở tại.
Qua khái niệm trên, ta thấy ngân hàng liên doanh có những đặc điểm như: Ngân hàng liên doanh là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, thuộc loại hình Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên. Ngân hàng liên doanh được ra đời trên cơ sở hợp đồng liên doanh giữa bên ngân hàng trong nước và bên ngân hàng nước ngoài.