CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MANG THAI HỘ 1. Các khái niệm về mang thai hộ 1.1 Khái niệm về mang thai hộ Mang thai hộ trong tiếng Anh được gọi là Surrogacy4, là việc một người phụ nữ mang thai bằng tinh trùng và trứng của một cặp vợ chồng không có khả năng sinh sản, sau đó sinh con hộ cặp vợ chồng ấy. Việc mang thai được thực hiện bằng phương pháp”thụ tinh trong ống nghiệm, kết hợp giữa noãn”của người mẹ và tinh trùng của người bố trong ống nghiệm để tạo thành phôi. Khi phôi thai được hình thành, phôi được đặt vào tử cung của người mang thai hộ.
Trong pháp lý, việc mang thai hộ là sự thỏa thuận giữa các bên:”bên nhờ mang thai hộ”và bên mang thai hộ5. Tuy nhiên, dù người mang thai hộ là người trực tiếp mang thai và sinh đẻ nhưng con đẻ ra sẽ được coi là con đẻ của bên nhờ mang thai hộ. Trong y học, mang thai hộ là một thành tựu khá lớn lao và mang một ý nghĩa cao cả khi đã biến rất nhiều ước mơ làm mẹ của những người phụ nữ hiếm muộn trở thành hiện thực. Dù vậy, thành tựu to lớn này cũng để lại khá nhiều bất cập và xảy ra những hệ lụy đằng sau nó.
Việc mang thai hộ từ một việc làm cao đẹp bỗng bị biến thành hành động phục vụ cho sự kinh doanh, trục lợi khi rất nhiều đường dây mang thai hộ vì mục đích thương mại hình thành, hoạt động chui lủi, đem lại nhiều rủi ro không đáng có cho các cặp vợ chồng khao khát có con. Do vậy, năm 2014, Luật hôn nhân gia đình Việt Nam đã ghi nhận việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Giờ đây, khái niệm mang thai hộ đã 4 Cambridge Dictionary, Surrogacy: the action of a woman having a baby for another woman who is unable to do so herself; truy cập ngày 5/2/2020 tại https://dictionary.org/vi/dictionary/english/surrogacy 5 Luật Hôn nhân và gia đình (2014) 20 được mở rộng cụ thể và chi tiết hơn với hai khái niệm chính là “mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” và “mang thai hộ vì mục đích thương mại”.2 Khái niệm về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Theo khoản 22 điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con”6.3 Khái niệm mang thai hộ vì mục đích thương mại Theo khoản 23 điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác”. Như vậy có thể thấy, theo quy định pháp luật, ranh giới để phân biệt được trường hợp “mang thai vì mục đích nhân đạo” với trường hợp “mang thai vì mục đích thương mại” là việc các bên có hoặc không có các thỏa thuận liên quan đến việc bên mang thai hộ sẽ được hưởng lợi ích kinh tế hoặc lợi ích khác.
Ý nghĩa của việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Việc Nhà nước ta thừa nhận việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo có thể coi là một cuộc cách mạng trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Vì trong bối cảnh xã hội hiện nay, khi mà tình trạng vô sinh trên thực tế ngày càng gia tăng, thì việc mang thai hộ đã trở thành một nhu cầu thực sự của nhiều người và mang lại nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, xét trên góc độ xã hội, việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo mang ý nghĩa nhân văn to lớn trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Người dân Việt Nam rất coi trọng việc sinh con, coi đó vừa là trách nhiệm duy trì nòi giống, vừa là nhân tố quan trọng trong việc duy trì hạnh phúc gia đình.
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo mở ra cho người dân nhiều cơ hội mới, niềm ao ước, khát khao có con trở thành hiện thực, góp phần 6 Luật Hôn nhân và gia đình (2014) 21 đảm bảo hạnh phúc gia đình. Điều này đã đáp ứng được nguyện vọng rất chính đáng của một bộ phận người dân. Thứ hai, xét trên góc độ quyền con người, biện pháp “mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” giúp cho những người không có khả năng mang thai và sinh nở có được một quyền con người vô cùng cơ bản, đó là quyền được làm cha, làm mẹ. Vì biện pháp này hiện nay là một biện pháp có hiệu quả cao trong y tế và là biện pháp mang lại niềm hy vọng cuối cùng đối với các cặp vợ chồng muốn có được đứa con ruột của mình nhưng lại không thể mang thai, sinh nở được.
Thứ ba, xét trên góc độ pháp lý, việc Nhà nước ta thừa nhận biện pháp “mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” đã góp phần ngăn ngừa tình trạng mang thai hộ vì mục đích thương mại hiện nay, góp phần hạn chế các tranh chấp về mang thai hộ, bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em. 22 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ MANG THAI HỘ Ở VIỆT NAM 2. Thực trạng vô sinh ở Việt Nam Theo góc độ của y học, “vô sinh là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2 - 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có thai”. 7Một cặp vợ chồng gọi là vô sinh nguyên phát nếu trong tiền sử họ chưa có thai lần nào.
Nhưng nếu trong tiền sử họ đã có ít nhất một lần mang thai, sinh, sẩy hoặc phá thai kế hoạch, rồi quá thời hạn một năm sau đó muốn có thai mà vẫn không có thai trở lại gọi là vô sinh thứ phát 8. Nguyên nhân hay gặp ở nữ là do tắc hai vòi tử cung, hội chứng buồng trứng đa nang, lạc nội mạc tử cung. Bệnh nhân không rụng trứng do bẩm sinh, tuổi cao, hậu quả của phẫu thuật hoặc điều trị hóa chất. Đời sống gặp áp lực, căng thẳng, bất thường đường sinh dục.
gây rối loạn quá trình rụng trứng9. Nam giới vô sinh thường không có tinh trùng do suy tinh hoàn, xuất tinh ngược hoặc tắc nghẽn hệ thống dẫn tinh. Người có tinh trùng nhưng yếu, ít, bất thường do bẩm sinh về gene, hệ quả của bệnh quai bị, viêm tinh hoàn. Thói quen uống rượu hút thuốc, sử dụng ma túy cũng ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng.
Ngoài ra, môi trường độc hại, ô nhiễm cũng làm tăng tình trạng vô sinh hiếm muộn, đặc biệt ở vợ chồng trẻ 10. Nhiều người thiếu thông tin kiến thức về sức khỏe sinh sản nên chưa biết cách bảo vệ mình. 7 Khoản 2, điều 2, 02/VBHN-BYT. VĂN BẢN HỢP NHẤT 02/VBHN-BYT NĂM 2019 HỢP NHẤT NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH VỀ SINH CON BẰNG KỸ THUẬT THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM VÀ ĐIỀU KIỆN MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO DO BỘ Y TẾ BAN HÀNH,.
8 Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khỏe Thừa Thiên - Huế (2017), Vài điều cần biết về điều trị vô sinh; truy cập ngày 11/2/2020 tại https://tuoitre.vn/vai-dieu-can-biet-ve-dieu-tri-vo-sinh-1324389.htm 9 Cẩm Anh (2019), Hơn một triệu cặp vợ chồng Việt Nam bị vô sinh hiếm muộn, Vn Express; truy cập ngày 11/02/2020 tại https://vnexpress.net/suc-khoe/hon-mot-trieu-cap-vo-chong-viet-nam-bi-vo-sinh-hiem-muon- 3906856.html 10 Cẩm Anh (2019), Hơn một triệu cặp vợ chồng Việt Nam bị vô sinh hiếm muộn, Vn Express; truy cập ngày 11/2/2020 tại https://vnexpress.net/suc-khoe/hon-mot-trieu-cap-vo-chong-viet-nam-bi-vo-sinh-hiem-muon- 3906856.html 23 Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới WHO, tỉ lệ vô sinh trên thế giới hiện tại là từ 6%-12% hiện tại vô sinh và hiếm muộn có xu hướng tăng lên tại châu Á trong đó có Việt Nam gây nhiều khó khăn trong công tác hỗ trợ và điều trị. Tại Việt Nam, vô sinh và hiếm muộn đang có xu hướng trẻ hóa, kết quả nghiên cứu bởi hai đơn vị nổi tiếng về chuyên ngành phụ sản, trường Đại học Y Hà Nội phối hợp với BV Phụ sản Trung ương thực hiện ở 8 tỉnh thành, trên 14.300 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ cho thấy: Tỷ lệ vô sinh hiếm muộn tại Việt Nam ngày càng tăng cao, lên đến 7,7%. Trong đó vô sinh nguyên phát là 3,9% và thứ phát là 3,8%. Điều đó có nghĩa là nước ta có khoảng 700.000 đến 1 triệu cặp vợ chồng vô sinh.
Đáng báo động có khoảng 50% cặp vợ chồng vô sinh có độ tuổi dưới 30. Cũng trong nghiên cứu này, tỷ lệ vô sinh ở nam giới ngày càng tăng cao. Ngay tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản (Bệnh viện Phụ sản trung ương), nếu như khoảng 10 năm trước, mỗi tuần tại đây tiếp nhận từ 2 đến 3 cặp vợ chồng đến điều trị các vấn đề về vô sinh hoặc hiếm muộn thì đến thời điểm hiện tại, con số này đã tăng lên từ 40 đến 60 cặp vợ chồng (gấp 20 lần). 11 Thực trạng vô sinh ở Việt Nam đang ở mức báo động và khiến người dân thực sự quan tâm lo lắng.
Vô sinh hiếm muộn không đơn thuần chỉ là vấn đề về sức khỏe mà ẩn sâu bên trong nó còn mang đến rất nhiều gánh nặng về kinh tế trong việc chữa trị, ảnh hưởng đến tâm lý, hạnh phúc gia đình và thậm chí là hôn nhân tan vỡ. Kĩ thuật y học hiện đại ngày một phát triển như chìa khóa mở cánh cửa giúp cho những cặp vợ chồng bị vô sinh hiếm muộn không còn tuyệt vọng. Nhiều trường hợp thành công đã giúp cho các gia đình khác có niềm tin hơn vào hành trình đi tìm hạnh phúc. 11 Linh Trang (2019), Nguyên nhân khiến tình trạng vô sinh ở VN tăng 20 lần, nhiều cặp dưới 30 tuổi đã vô sinh, Afamily.vn; truy cập ngày 11/2/2020 tại https://afamily.vn/nguyen-nhan-khien-tinh-trang-vo-sinh-o-vn-tang-20-lan- nhieu-cap-duoi-30-tuoi-da-vo-sinh- Thực trạng mang thai hộ ở Việt Nam 2.
Số liệu cụ thể Theo như số liệu thống kê của Bộ Y tế, mỗi năm tại Việt Nam có khoảng 500-700 cặp vợ chồng có nhu cầu mang thai hộ. Song, trước đây do những rào cản về mặt pháp lý, mang thai hộ được thực hiện chủ yếu dưới hình thức các hợp đồng đẻ thuê. Có nghĩa là các hợp đồng thương mại được hiện một cách phi pháp thì những hệ lụy của vấn đề này trở nên rất phức tạp, tạo nên các rủi ro cho các chủ thể và ngay cả bản thân đứa trẻ được sinh ra.