Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Sự hình thành và phát triển của Luật Đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam" tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

  • Bối cảnh thực tiễn: Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đường lối đổi mới và chủ trương hợp tác đầu tư với nước ngoài đã được cụ thể hóa bằng việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987. Sau gần 15 năm thực hiện, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), mở rộng thị trường xuất khẩu, giải quyết việc làm và tăng thu ngân sách. Tuy nhiên, yêu cầu tiếp tục đổi mới toàn diện nền kinh tế và chủ động hội nhập quốc tế theo tinh thần Đại hội IX của Đảng ("Tiếp tục chính sách mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế để phát triển") đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài.
  • Khoảng trống nghiên cứu: Trước thời điểm luận án thực hiện, các công trình khoa học trong nước chủ yếu tiếp cận pháp luật đầu tư nước ngoài ở từng khía cạnh riêng lẻ như cơ chế điều chỉnh, khung pháp luật cụ thể hoặc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về sự hình thành và phát triển của Luật Đầu tư nước ngoài với tư cách là một bộ phận cấu thành trong tổng thể hệ thống pháp luật Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài, luận án hướng tới việc đánh giá thực trạng, dự báo xu hướng phát triển và kiến nghị phương hướng, nội dung hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam thời gian tới.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án xác định 3 nhiệm vụ cụ thể:
    1. Làm sáng tỏ các khái niệm: Đầu tư nước ngoài, pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; đặc điểm của pháp luật đầu tư nước ngoài và vai trò, vị trí của nó trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
    2. Phân tích, làm rõ sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài qua từng thời kỳ lịch sử; đánh giá thực trạng của pháp luật đầu tư nước ngoài về cả ưu điểm và hạn chế.
    3. Dự báo xu hướng phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Góc độ tiếp cận: Nghiên cứu dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật.
    • Nội hàm thuật ngữ: "Luật Đầu tư nước ngoài" được tiếp cận theo nghĩa rộng gồm 3 bộ phận: (1) Đạo luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài (năm 1987, 1996 và các luật sửa đổi, bổ sung) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành; (2) Các chế định điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các đạo luật khác (chế định phá sản trong Luật Phá sản doanh nghiệp, chế định lao động trong Bộ luật Lao động...); (3) Các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập điều chỉnh hoạt động FDI.
    • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu các vấn đề về đầu tư trực tiếp nước ngoài từ năm 1975 đến thời điểm thực hiện luận án (giai đoạn sau Đại hội IX của Đảng).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã điểm luận các công trình nghiên cứu chuyên sâu liên quan trực tiếp đến pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam:

STT Tác giả / Cơ quan thực hiện Tên công trình / Đề tài Năm Nội dung / Hướng tiếp cận
1 Hoàng Phước Hiệp Cơ chế điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (Luận án Tiến sĩ luật học) 1996 Nghiên cứu cơ chế điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động FDI.
2 Lê Mạnh Tuấn Cơ sở khoa học của việc hoàn thiện khung pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (Luận án Tiến sĩ luật học) 1996 Luận giải cơ sở khoa học để hoàn thiện khung pháp luật FDI.
3 Nguyễn Hải Hà Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Luận án Tiến sĩ luật học tại Pháp) 2000 Phân tích các quy định của pháp luật đầu tư nước ngoài Việt Nam dưới góc độ so sánh.
4 Bộ Kế hoạch và Đầu tư Những vấn đề cơ bản về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (Tập bài giảng) 2000 Tập trung vào phương diện quản lý nhà nước đối với dự án và nguồn vốn FDI.
5 Bộ Tư pháp Dự án VIE/94-03, Tập II - Phần I: Pháp luật về các loại hình doanh nghiệp 1998 Đi sâu vào khung pháp lý về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
6 Bộ Kế hoạch và Đầu tư Dự án VIE/97-016: Tăng cường môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh 1997 Đề tài nhánh tập trung nghiên cứu địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình kể trên tiếp cận pháp luật đầu tư nước ngoài dưới góc độ cơ chế điều chỉnh, quản lý hành chính kinh tế hoặc địa vị pháp lý của doanh nghiệp FDI. Luận án này đặt pháp luật đầu tư nước ngoài vào tiến trình lịch sử phát triển tổng thể của hệ thống pháp luật Việt Nam từ năm 1975, làm rõ bản chất lý luận, tính giao thoa ngành luật, 4 đặc trưng cơ bản và đề xuất định hướng hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cơ sở lý luận nền tảng:
    • Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước và pháp luật.
    • Quan điểm của V.I. Lênin trong tác phẩm "Chủ nghĩa đế quốc - Giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản" về hiện tượng xuất khẩu tư bản như một tất yếu kinh tế khách quan của chủ nghĩa tư bản độc quyền, cùng chính sách "Chính sách kinh tế mới" (NEP) về việc sử dụng "tư bản nhà nước".
    • Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX và Hội nghị Trung ương 3 khóa VII về mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước.
    • Các luận điểm lý luận luật học của GS.TSKH Đào Trí Úc (về tính phổ biến và quyền lực bắt buộc chung của pháp luật) và PGS.TS Chu Hồng Thanh (về sự chuyển biến chức năng của pháp luật kinh tế từ thời kỳ bao cấp sang kinh tế thị trường).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể (Định tính):
    • Phương pháp phân tích văn bản và hệ thống hóa: Phân tích cấu trúc quy phạm, điều khoản của Luật Đầu tư nước ngoài (1987, 1996), Điều lệ Đầu tư nước ngoài (1977), các văn bản hướng dẫn thi hành và các luật chuyên ngành liên quan (Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Phá sản doanh nghiệp).
    • Phương pháp lịch sử: Khảo cứu quá trình ban hành chính sách và văn bản pháp lý từ năm 1975, phân tích tính kế thừa và sự thay đổi nhận thức qua các giai đoạn kinh tế.
    • Phương pháp so sánh pháp luật: So sánh mô hình lập pháp và phương pháp điều chỉnh của Việt Nam với các nước trong khu vực (Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Singapore, Trung Quốc) và các quốc gia phát triển (Hoa Kỳ, Pháp, CHLB Đức).
    • Phương pháp dự báo khoa học: Phân tích xu hướng chuyển dịch của khung pháp lý trong bối cảnh thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và chuẩn bị gia nhập các thiết chế kinh tế quốc tế.

Nguồn dữ liệu và tư liệu

  • Văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các Bộ ngành từ năm 1975.
  • Các báo cáo tổng kết tình hình FDI của Chính phủ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
  • Tài liệu, báo cáo của các tổ chức quốc tế: Báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 1996 (Đầu tư thương mại và các thỏa thuận chính sách quốc tế), tài liệu Hội thảo về thương mại và phát triển của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), văn kiện Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV), Từ điển Kinh doanh (London, 1982).
  • Các điều ước quốc tế: Hiệp định khung về Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA 1999), Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA), các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương, hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Công ước MIGA 1985 và Công ước New York 1958.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có độ dài 187 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung được kết cấu thành 3 chương gồm 9 mục.

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về sự hình thành và phát triển pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Chương này tập trung giải quyết các vấn đề nền tảng về cơ sở lý luận, tính tất yếu, khái niệm, bản chất pháp lý, đặc trưng và vai trò của pháp luật đầu tư nước ngoài.

1. Tính tất yếu khách quan và sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật

  • Tính tất yếu của việc thu hút đầu tư nước ngoài: Luận án chỉ ra đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất hiện từ thế kỷ XVI (Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha đầu tư vào châu Á, châu Phi). Đến thế kỷ XIX, quá trình tích tụ tư bản dẫn đến hiện tượng xuất khẩu tư bản. Đối với các nước đang phát triển và đặc biệt là Việt Nam sau chiến tranh, tình trạng thiếu vốn tích lũy nội bộ (trước 1990 phụ thuộc chủ yếu vào viện trợ và vay nợ từ Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu) đòi hỏi phải mở cửa thu hút FDI để tiếp cận vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý, tránh nguy cơ tụt hậu.
  • Phân định 4 nguồn vốn tài chính quốc tế: Luận án làm rõ FDI là một trong bốn dòng vốn tài chính quốc tế, bên cạnh ODA/NGO, tín dụng thương mại, và đầu tư gián tiếp qua thị trường vốn (cổ phiếu, trái phiếu). Các nguồn vốn này có quan hệ tác động qua lại: ODA giúp tạo hạ tầng cơ sở để thu hút FDI, trong khi nguồn thu từ hoạt động của FDI giúp Chính phủ có nguồn lực thanh toán nợ ODA.
  • 5 lý do cần điều chỉnh hoạt động FDI bằng pháp luật:
    1. Pháp luật là công cụ quản lý mang quyền lực nhà nước, hiện thực hóa ý chí nhà nước được quy định bởi điều kiện kinh tế vật chất khách quan.
    2. Pháp luật triển khai các chủ trương, đường lối kinh tế nhanh nhất, đồng bộ nhất trên quy mô toàn xã hội.
    3. Trong kinh tế thị trường, pháp luật tạo lập hành lang pháp lý, xác lập "sân chơi" bình đẳng, khách quan cho các chủ thể sản xuất kinh doanh.
    4. Pháp luật xác định rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý, thiết lập điều kiện thực thi và bảo đảm thực hiện quyền của nhà đầu tư.
    5. Pháp luật ràng buộc các cơ quan quản lý nhà nước phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình quản lý, phục vụ việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001 theo Nghị quyết 51/2001/QH10).

2. Khái niệm, hình thức, phương thức và vị trí của pháp luật đầu tư nước ngoài

  • Khái niệm đầu tư nước ngoài: Luận án phân tích sự phát triển khái niệm từ phạm vi hẹp về giá trị vật chất của Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV), định nghĩa của OECD, Ngân hàng Thế giới (1996), đến quy định tại Điều 2 Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977, Khoản 3 Điều 2 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 và định nghĩa mở rộng trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. Tác giả khái quát: Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư của nước này đưa vốn bằng tiền hoặc tài sản khác vào nước khác để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận. Yếu tố nước ngoài thể hiện qua hai dấu hiệu: có sự tham gia của chủ thể nước ngoài và có sự di chuyển vốn xuyên biên giới.
  • Hình thức và phương thức đầu tư:
    • 3 hình thức đầu tư trực tiếp: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; Doanh nghiệp liên doanh; Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC).
    • Các phương thức tổ chức đầu tư: Hợp đồng BOT (Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao), BTO (Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh), BT (Xây dựng - Chuyển giao), Khu chế xuất và Khu công nghiệp.
  • Vị trí của pháp luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật: Tác giả phân tích và phản biện 4 quan điểm khoa học:
[Quan điểm 1: Ngành luật độc lập] ----> Bác bỏ (Thiếu phương pháp điều chỉnh đặc thù, tính tồn tại tạm thời)
[Quan điểm 2: Bộ phận Tư pháp quốc tế] -> Bác bỏ (Quan hệ sản xuất kinh doanh không hoàn toàn do TPQT điều chỉnh)
[Quan điểm 3: Bộ phận Luật Kinh tế] ---> Có hạt nhân hợp lý nhưng chưa bao quát các quan hệ dân sự, lao động có yếu tố nước ngoài
[Quan điểm 4: Nơi giao thoa của nhiều ngành luật] -> TÁC GIẢ ĐỒNG TÌNH

Tác giả khẳng định: Pháp luật đầu tư nước ngoài không phải là một ngành luật độc lập mà là nơi giao thoa của nhiều ngành luật (Luật Kinh tế, Luật Tư pháp quốc tế, Luật Dân sự, Luật Lao động, Luật Đất đai...).

  • Đối tượng điều chỉnh: Gồm 7 nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động FDI (giữa nhà đầu tư với Nhà nước Việt Nam; giữa đối tác nước ngoài và đối tác trong nước; giữa doanh nghiệp FDI với các tổ chức kinh tế Việt Nam; giữa doanh nghiệp FDI với tổ chức/cá nhân nước ngoài; giữa doanh nghiệp FDI với cơ quan nhà nước; giữa nhà đầu tư/doanh nghiệp FDI với người lao động; giữa các bên với cơ quan tài phán).
  • Phương pháp điều chỉnh: Kết hợp hài hòa 3 phương pháp:
    1. Phương pháp thỏa thuận (tự nguyện): Tôn vinh quyền tự định đoạt kinh doanh của nhà đầu tư theo quy luật thị trường.
    2. Phương pháp mệnh lệnh (bắt buộc): Áp dụng để bảo vệ chủ quyền quốc gia, trật tự công cộng và xử lý vi phạm pháp luật.
    3. Phương pháp khuyến khích: Áp dụng các ưu đãi về thuế, đất đai, thủ tục cho các lĩnh vực công nghệ cao, giải quyết nhiều lao động, hạ tầng, vùng sâu vùng xa.
Quốc gia Hình thức/Văn bản pháp luật Đặc điểm phương pháp điều chỉnh
Indonesia Luật Đầu tư nước ngoài (1967, sửa đổi 1970) Ban hành Danh mục cấm đầu tư (sòng bạc, khai thác lâm sản, chế biến cần sa...) và Danh mục không cho phép sở hữu 100% vốn (cảng biển, điện, viễn thông, hàng không...).
Malaysia Luật Đầu tư nước ngoài Không cấm ngành nghề cụ thể; áp dụng phương pháp khuyến khích tối đa; chỉ khống chế tỷ lệ tham gia tối thiểu của công ty nội địa.
Philippines Luật Đầu tư nước ngoài (1991, sửa đổi 1994) Phân 3 danh mục: Danh mục A (ưu tiên công dân Philippines, FDI tối đa 40% hoặc cấm); Danh mục B (hạn chế vì an ninh, quốc phòng, y tế); Danh mục C (đã bão hòa nhu cầu).
Singapore Không có luật riêng về FDI Áp dụng Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài, tập trung ưu đãi công nghệ cao, xuất khẩu.
Trung Quốc Luật Đầu tư nước ngoài (từ 1995 mở rộng) Quy định 3 danh mục: Khuyến khích, Cấm, Hạn chế; từng bước mở cửa hàng không, tài chính, bảo hiểm, chứng khoán.
Hoa Kỳ / Đức Không có luật FDI riêng Điều chỉnh chung bằng Luật Công ty (Hoa Kỳ) hoặc Luật Kinh doanh (Đức).

3. 4 đặc trưng cơ bản của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

  1. Ra đời trước khi có quan hệ đầu tư nước ngoài trên thực tế tại Việt Nam: Điều lệ năm 1977 và Luật năm 1987 được ban hành khi nền kinh tế chưa tồn tại các quan hệ thị trường thực tế về FDI; pháp luật đóng vai trò đi trước mở đường ("vượt trước" để định hướng kinh tế).
  2. Chứa đựng các quy phạm pháp luật đầu tiên hướng tới kinh tế thị trường: Điều lệ 1977 và Luật 1987 là các văn bản đầu tiên thừa nhận thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, cam kết không quốc hữu hóa tài sản, tạo tiền đề "vượt rào" so với cơ chế tập trung quan liêu và Hiến pháp 1980.
  3. Có các chủ thể tham gia đặc thù: Bao gồm cơ quan nhà nước được ủy quyền ký kết hợp đồng BOT/BTO/BT (Nhà nước tham gia với tư cách chủ thể có chủ quyền); nhà đầu tư nước ngoài; và người Việt Nam định cư ở nước ngoài (được quyền lựa chọn áp dụng quy chế nhà đầu tư nước ngoài theo Luật ĐTNN hoặc quy chế chủ đầu tư trong nước theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước).
  4. Cấu thành bởi số lượng lớn các điều ước quốc tế: Bao gồm Hiệp định AIA (1999), 41 Hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 34 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, Công ước MIGA 1985 và Công ước New York 1958.

4. Vai trò của pháp luật đầu tư nước ngoài

Pháp luật đầu tư nước ngoài thể chế hóa đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Đảng qua các kỳ Đại hội:

  • Đại hội VI (1986): Mở rộng quan hệ trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình.
  • Đại hội VII (1991) & Hội nghị Trung ương 3 khóa VII: "Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới", phá bỏ thế bao vây cấm vận.
  • Đại hội VIII (1996): Điều chỉnh cơ cấu thị trường để vừa hội nhập khu vực vừa hội nhập toàn cầu.
  • Đại hội IX (2001): Khẳng định doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành hữu cơ của nền kinh tế nhiều thành phần tại Việt Nam.

Chương 2: Quá trình hình thành, phát triển và thực trạng của pháp luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam

(Nội dung được cấu trúc theo nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi lịch sử của luận án)

  • Quá trình hình thành qua các giai đoạn lịch sử (1975 đến nay):
    • Giai đoạn 1975 - 1986: Ban hành Điều lệ Đầu tư nước ngoài năm 1977 (Nghị định 115/CP ngày 18/4/1977). Đây là cơ sở pháp lý đầu tiên tạo tiền đề cho chính sách mở cửa dù đặt trong bối cảnh cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
    • Giai đoạn 1987 - 1996: Ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 và các luật sửa đổi, bổ sung năm 1990, 1992. Đạo luật tạo hành lang pháp lý mở đường cho dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam, thể chế hóa đường lối đổi mới của Đại hội VI và Đại hội VII.
    • Giai đoạn 1996 đến thời điểm nghiên cứu: Ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000, hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý đầu tư, đa dạng hóa các phương thức đầu tư (BOT, BTO, BT) và thích ứng với quá trình đàm phán quốc tế.
  • Đánh giá thực trạng hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài:
    • Ưu điểm: Đã tạo lập được khung pháp lý cơ bản, bảo đảm quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư, đa dạng hóa hình thức hợp tác, nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm.
    • Hạn chế: Sự thiếu đồng bộ giữa Luật Đầu tư nước ngoài với các luật chuyên ngành trong nước; tồn tại sự phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài (hai mặt bằng pháp lý song song giữa Luật Đầu tư nước ngoài và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước); thủ tục hành chính, quy trình cấp phép và quản lý sau cấp phép còn phức tạp.

Chương 3: Xu hướng phát triển và các giải pháp hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam

(Nội dung được cấu trúc theo định hướng giải pháp và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án)

  • Dự báo xu hướng phát triển: Xu hướng xích lại gần nhau giữa pháp luật điều chỉnh đầu tư trong nước và pháp luật điều chỉnh đầu tư nước ngoài, hướng tới việc ban hành một đạo luật đầu tư chung áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu của các hiệp định thương mại song phương và cam kết đa phương.
  • Nguyên tắc hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài:
    1. Bảo đảm giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia và định hướng XHCN trong quá trình mở cửa kinh tế.
    2. Bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của pháp luật đầu tư nước ngoài trong tổng thể hệ thống pháp luật Việt Nam.
    3. Từng bước xóa bỏ sự phân biệt đối xử, xây dựng mặt bằng pháp lý bình đẳng giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
    4. Phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
  • Phương hướng và giải pháp cụ thể:
    • Hoàn thiện Phần chung: Rà soát, chuẩn hóa hệ thống khái niệm, mở rộng đối tượng và quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp FDI.
    • Hoàn thiện Phần riêng: Sửa đổi đồng bộ các nhóm quy phạm về thuế, tài chính, đất đai, thủ tục hải quan, lao động, chuyển giao công nghệ và cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài thương mại/tòa án.
    • Cải cách quản lý nhà nước: Đẩy mạnh phân cấp cấp phép đầu tư đi đôi với nâng cao hiệu lực thanh tra, kiểm tra; đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm nâng cao sức cạnh tranh thu hút FDI của Việt Nam so với các nước trong khu vực.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Xác lập vị trí pháp lý của pháp luật đầu tư nước ngoài: Luận án là công trình tiến sĩ luật học đầu tiên tại Việt Nam chứng minh một cách có hệ thống rằng pháp luật đầu tư nước ngoài không phải là một ngành luật độc lập, cũng không hoàn toàn thuộc về Luật Kinh tế hay Tư pháp quốc tế, mà là chế định phức hợp/nơi giao thoa của nhiều ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
  2. Khái quát 4 đặc trưng mang tính quy luật: Luận giải cơ sở lý luận của hiện tượng pháp luật "đi trước, mở đường" cho các quan hệ kinh tế thị trường tại Việt Nam từ năm 1977; xác định vị trí của các chủ thể đặc thù (Nhà nước trong hợp đồng dự án, người Việt Nam định cư ở nước ngoài); và vai trò cấu thành của các điều ước quốc tế.
  3. Hệ thống hóa cấu trúc nội dung: Xác định rành mạch cấu trúc của hệ thống pháp luật đầu tư nước ngoài gồm Phần chung (nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, bảo hộ quyền sở hữu, định nghĩa khái niệm) và Phần riêng (7 nhóm quy phạm: hình thức/phương thức đầu tư, thuế - tài chính, chuyển giao công nghệ, hải quan, đất đai - lao động, trọng tài xử lý tranh chấp, quản lý nhà nước).

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp

  1. Đánh giá toàn diện thực trạng khung pháp lý FDI: Chỉ rõ những bất cập của cơ chế hai mặt bằng pháp lý (phân biệt giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài), sự thiếu tương thích giữa các đạo luật chuyên ngành.
  2. Dự báo lộ trình thống nhất pháp luật: Dự báo chính xác xu hướng hợp nhất pháp luật đầu tư nước ngoài và pháp luật khuyến khích đầu tư trong nước thành một đạo luật đầu tư thống nhất trong tương lai gần.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ: Kiến nghị phương hướng sửa đổi cụ thể cho 7 nhóm quy định chuyên ngành và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Luận án được triển khai trong bối cảnh Việt Nam đang trong giai đoạn đầu thực thi Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) và chuẩn bị đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), do đó các dữ liệu thực tiễn và khung phân tích chịu sự giới hạn của hệ thống pháp luật đầu tư giai đoạn trước khi Luật Đầu tư chung năm 2005 được ban hành.
    • Khảo cứu kinh nghiệm quốc tế tập trung chủ yếu vào các nước ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan) và Trung Quốc, chưa đi sâu vào toàn bộ hệ thống án lệ giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (ISDS).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu sâu về cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài theo các công ước quốc tế.
    • Nghiên cứu mô hình hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) khi thị trường vốn Việt Nam phát triển.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật học/kinh tế quốc tế:
    • Tham khảo chương 1 để nắm vững phương pháp luận lý luận chung về Nhà nước và pháp luật trong việc phân loại ngành luật, xác định đối tượng và phương pháp điều chỉnh của các chế định pháp luật phức hợp.
    • Sử dụng khung phân tích về 4 đặc trưng của pháp luật đầu tư nước ngoài và cơ chế điều chỉnh kết hợp (thỏa thuận, mệnh lệnh, khuyến khích).
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo luật:
    • Giáo trình và tài liệu tham khảo trong giảng dạy môn Luật Đầu tư, Luật Thương mại quốc tế, Tư pháp quốc tế tại các cơ sở đào tạo như Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - ĐHQGHN, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
  • Cán bộ quản lý nhà nước và cơ quan hoạch định chính sách:
    • Cán bộ thuộc các ngành Kế hoạch và Đầu tư, Tư pháp, Tài chính, Địa chính (Tài nguyên và Môi trường), Hải quan, Thương mại trong việc rà soát, đánh giá tác động chính sách và xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khẳng định pháp luật đầu tư nước ngoài có phải là một ngành luật độc lập không?

Không. Luận án phân tích và bác bỏ quan điểm coi pháp luật đầu tư nước ngoài là ngành luật độc lập vì nó không có phương pháp điều chỉnh hoàn toàn riêng biệt và không tồn tại lâu dài độc lập. Tác giả khẳng định pháp luật đầu tư nước ngoài là nơi giao thoa của nhiều ngành luật (Luật Kinh tế, Tư pháp quốc tế, Dân sự, Lao động, Đất đai...) và có mối quan hệ gần gũi với Luật Kinh tế.

2. Quy chế pháp lý dành cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đầu tư về nước có điểm gì đặc thù?

Theo pháp luật Việt Nam thời kỳ này, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đầu tư về nước được quyền lựa chọn một trong hai quy chế pháp lý: (1) Quy chế "nhà đầu tư nước ngoài" theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, hoặc (2) Quy chế "chủ đầu tư" theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Ngoài ra, họ có thể cùng doanh nghiệp Việt Nam hợp thành "Bên Việt Nam" tham gia quan hệ đầu tư nước ngoài.

3. Phương pháp điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài gồm những phương pháp nào?

Pháp luật đầu tư nước ngoài sử dụng kết hợp 3 phương pháp điều chỉnh:

  • Phương pháp thỏa thuận (tự nguyện): Áp dụng trong việc đàm phán hợp đồng, liên doanh, lựa chọn dự án theo quy luật thị trường.
  • Phương pháp mệnh lệnh (bắt buộc): Áp dụng để bảo đảm chủ quyền quốc gia, trật tự công cộng và cưỡng chế thi hành pháp luật.
  • Phương pháp khuyến khích: Áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế, tiền thuê đất, thủ tục để hướng dòng vốn vào các ngành, vùng kinh tế trọng điểm.

4. Bốn nguồn vốn tài chính nước ngoài đổ vào một quốc gia được luận án phân định gồm những gì?

Bốn nguồn vốn gồm: (1) Viện trợ phát triển chính thức (ODA) và viện trợ phi chính phủ (NGO); (2) Tín dụng thương mại; (3) Tín phiếu, trái phiếu, cổ phiếu (đầu tư gián tiếp); (4) Vốn đầu tư trực tiếp (FDI). Luận án nhấn mạnh ODA và FDI có mối quan hệ tương hỗ: ODA xây dựng cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thu hút FDI, còn FDI tạo ra giá trị kinh tế giúp nhà nước có nguồn thu trả nợ ODA.

5. Văn bản pháp lý đầu tiên của Việt Nam điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài là văn bản nào?

Văn bản pháp lý đầu tiên là Điều lệ Đầu tư của nước ngoài ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ban hành kèm theo Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 của Hội đồng Chính phủ. Văn bản này ra đời trước Đại hội VI (1986) và trước khi có quan hệ đầu tư nước ngoài trên thực tế tại Việt Nam.


Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học "Sự hình thành và phát triển của Luật Đầu tư nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam" là công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn đối với khung pháp lý điều chỉnh hoạt động FDI từ năm 1975 đến giai đoạn đầu thế kỷ XXI. Tác giả đã làm sáng tỏ vị trí của pháp luật đầu tư nước ngoài là nơi giao thoa của nhiều ngành luật, phân tích 4 đặc trưng bản chất và đánh giá khách quan thành tựu cũng như hạn chế của hệ thống văn bản hiện hành. Luận án đã dự báo đúng đắn xu hướng hội tụ pháp luật đầu tư trong nước và quốc tế, cung cấp luận cứ khoa học có giá trị cho công tác lập pháp và nghiên cứu, giảng dạy luật học tại Việt Nam.