MỞ ĐẦU Lignin là một trong hai loại polymer sinh học phổ biến trong cây, sau cellulose, và ƣớc tính lignin chiếm 30% lƣợng carbon hữu cơ trong sinh quyển [27]. Quá trình tổng hợp lignin là một trong những cách thức thích nghi của thực vật trong quá trình tiến hóa khi thực vật thay đổi môi trƣờng sống từ nƣớc lên cạn. Lignin giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành cấu trúc thành tế bào và thân. Thêm vào đó lignin tham gia vào quá trình vận chuyển nƣớc, các chất dinh dƣỡng thông qua hệ thống bao mạch và giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự chắc chắn của cây trong không gian, cũng nhƣ bảo vệ cây khỏi các nhân tố gây bệnh.
Hàm lƣợng lignin cao trong gỗ giúp gỗ bền. Bởi vậy, nó là nguyên liệu thô tốt cho nhiều ứng dụng (trong xây dựng, nội thất,. Nó còn là một loại nhiên liệu hoàn hảo, khi đốt năng lƣợng tỏa ra từ lignin cao hơn từ cellulose. Tuy nhiên trong một số lĩnh vực nhƣ sản xuất sợi, sản xuất giấy thì hàm lƣợng lignin cao lại là một trở ngại.
Ví dụ nhƣ trong công nghiệp sản xuất giấy, lignin làm cho giấy chuyển mầu vàng theo thời gian. Do đó lignin cần phải đƣợc loại bỏ trƣớc khi sử dụng để sản xuất giấy trắng chất lƣợng cao. Vậy làm thế nào để điều chỉnh đƣợc hàm lƣợng lignin trong cây theo hƣớng có lợi cho bản thân sinh vật và con ngƣời, nhƣ: tăng hàm lƣợng lignin trong cây trồng làm nhiên liệu, trong xây dựng, trong cây nông nghiệp (cây lúa – chống đổ) hay giảm hàm lƣợng lignin trong cây bạch đàn nhằm tạo thuận lợi cho quá trình sản xuất giấy. Đã và đang có rất nhiều nghiên cứu (chủ yếu là ở nƣớc ngoài) về lignin, quá trình sinh tổng hợp lignin, các enzyme tham gia vào quá trình này nhƣ enzyme cinnamoyl coenzymeA reductase (CCR) và enzyme cinnamyl alcohol dehydrogenase (CAD), nhƣng đa phần là trên các cây mô hình (Arabidopsis 1 thaliana, Populus trichocarpa).
Nhằm mục đích điều khiển sự biểu hiện của một số enzyme tham gia vào quá trình sinh tổng hợp lignin ở mô phân sinh gỗ cho một số đối tƣợng cây lâm nghiệp bằng phƣơng pháp chuyển gen, chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân lập promoter của gen mã hóa cho enzyme cinnamyl alcohol dehydrogenase (CAD) biểu hiện đặc hiệu ở xylem từ cây bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla S. Làm vật liệu để thiết kế các cấu trúc vector chuyển gen biểu hiện đặc hiệu ở tầng xylem thực vật. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Tách dòng và phân tích trình tự nucleotide đoạn promoter của gen mã hóa cho enzyme cinnamyl alcohol dehydrogenase (CAD) từ cây bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla S. Blake) trồng tại Việt Nam.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1. Tập hợp thông tin về trình tự nucleotide đoạn promoter của gen mã hóa cho enzyme cinnamyl alcohol dehydrogenase (CAD) đã công bố trên ngân hàng gen quốc tế NCBI và thiết kế cặp mồi để khuếch đại đoạn promoter này từ cây bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla S. Tách dòng đoạn promoter của gen mã hóa cho enzyme CAD từ cây bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla S. Phân tích trình tự nucleotide đoạn promoter của gen mã hóa cho enzyme CAD phân lập đƣợc ở mục 2.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây bạch đàn Bạch đàn là một chi thực vật thuộc họ Sim (Myrtaceae), bộ Sim (Myrtaces), phân lớp Hoa Hồng (Rosidae), lớp Hai lá mầm (Dicotyledones). Tên bạch đàn Eucalyptus lần đầu tiên đƣợc nhà thực vật học ngƣời Pháp Charles Louis L’Heritier de Brutelle đặt cho vào năm 1788. Từ đó đã có tới 600 loài và biến chủng đƣợc đặt tên và mô tả, gần đây đã chấp nhận trên 500 loài [3].
bạch đàn có xuất xứ từ Australia [3, 4, 23] và chỉ có hai loài bạch đàn phân bố ngoài Australia là E.deglupta Blume và E. Cho đến nay, bạch đàn đã đƣợc gây trồng ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các vùng nhiệt đới và ôn đới, giữa các vĩ độ 45oN và 40oB nhƣ: Braxin, Trung Quốc, Ấn Độ,… [3]. Bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla S. Blake) có nguyên sản ở Indonesia (tập trung ở một số đảo là Flores, Adona, Pantar, Alor.
Wetar và Timor), phân bố từ 7o30 - 10o vĩ Nam và 122o - 127o kinh Đông trên các dốc núi và trong các thung lũng, trên các loại đất bazan, diệp thạch và phiến thạch, đôi khi mọc ở vùng núi đá vôi. Bạch đàn urô phân bố ở độ cao 300 – 2960 m so với mặt nƣớc biển. Bạch đàn urô có thể cao 25 – 45 m, cá biệt có thể cao 55 m, đƣờng kính đạt từ 1 – 2 m [2]. Lần đầu tiên bạch đàn urô có mặt tại Việt Nam trong chƣơng trình khảo nghiệm loài và xuất xứ bạch đàn năm 1979 tại vùng nguyện liệu giấy Trung tâm Bắc Bộ [5].
Các vƣờn giống cây trồng bằng hạt của loài hiện đã đƣợc xây dựng tại địa bàn các tỉnh Phú Thọ và Hà Tây. Bạch đàn urô đƣợc đánh giá là loài có dáng rất đẹp, chất lƣợng gỗ tốt. Gỗ bạch đàn đƣợc sử dụng với rất nhiều mục đích nhƣ: gỗ xây dựng, làm đồ 3 dùng trong gia đình, gỗ trụ mỏ,… Bạch đàn urô đƣợc xem là nguyên liệu chính cho công nghiệp sản xuất giấy trên thế giới và Việt Nam. Những nghiên cứu về bộ gen ở cây bạch đàn Với sự phát triển của các kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại, hiệu suất cao và tin sinh học nhiều nghiên cứu về bộ gen của nhiều loài cây đã đƣợc giải mã thành công ví dụ cây Arabidopsis thaliana, và đặc biệt trong số này bao gồm cả những loài cây quan trọng trong nông nghiệp nhƣ lúa (Oryza sativa) và trong lâm nghiệp nhƣ cây dƣơng (Populus trichocarpa).
Thông tin về bộ gen của những loài cây này đã trở thành những công cụ rất có giá trị trong các nghiên cứu về chức năng và sự tƣơng tác giữa các gen, những nghiên cứu về tiến hoá và sự phân bố gen trong các quần thể thực vật. Thực vật hạt kín đƣợc cho là có nhiều điểm tƣơng đồng về bộ gen, các quá trình trao đổi chất với các loài cây mô hình, chính vì vậy mà những nghiên cứu trên các loài cây này là những thông tin và công cụ quan trọng cho các loài cây thuộc họ khác ví dụ chi Eucalyptus [6]. Những nghiên cứu về gen trên cây bạch đàn bao gồm nhiều khía cạnh về cấu trúc, chức năng và thành phần trong trình tự của bộ gen. Đặc điểm của bộ gen, bao gồm trong nhân và ngoài nhân, đƣợc xác định dựa trên việc tạo ra bản đồ liên kết các vị trí chỉ thị phân tử và các locus tính trạng số lƣợng.
Những nghiên cứu về chức năng của gen chủ yếu tập trung vào việc tách dòng và xác định các gen mới, phân tích sự biểu hiện của gen, định vị gen trên các locus quy định tính trạng số lƣợng, mối liên kết giữa tính đa hình DNA và hình thái cá thể, và cuối cùng là tạo ra các dòng cây chuyển gen mang các tính trạng mong muốn. Lignin và chu trình sinh tổng hợp lignin ở thực vật 1. Lignin 4 Lignin có cấu trúc phức tạp, là một polyphenol có mạng không gian mở. Thành phần thay đổi theo từng loại gỗ, tuổi cây hoặc vị trí của nó trong cấu trúc gỗ.
Lignin là các phức hợp dị polymer thơm và hiếm đƣợc tổng hợp từ ba loại đơn phân hydroxycinnamyl alcohol. Ba loại đơn phân này phân biệt với nhau tuỳ thuộc vào mức độ methoxyl hóa, với tên hóa học là: p-coumaryl M1H, coniferyl M1G và sinapyl M1S alcohol [18, 21]. 1: Đơn vị cấu trúc cơ bản của lignin Từ ba loại đơn phân này, các chất p-hydroxyphenyl (H), guaiacyl (G)và syringyl (S) phenylpropanoid đƣợc tạo ra. Các chất này sau đó sẽ kết hợp lại để tạo ra phân tử lingin Mặc quá trình sinh tổng hợp các monolignol (đơn phân tạo ra lignin) đã đƣợc xây dựng lại nhiều lần nhƣng đến nay nó vẫn còn là vấn đề bàn cãi trong các nhà khoa học.
Tƣơng tự nhƣ vậy, thì các quá trình khử và polymer hóa các monolignol trong thành tế bào cũng vẫn là những chủ đề đang đƣợc nghiên cứu và thảo luận. Chu trình sinh tổng hợp lignin 6 Hình 1. 2: Sinh tổng hợp lignin trong thực vật Thành phần và hàm lƣợng lignin khác nhau giữa các loài, loại tế bào và các phân lớp của vách tế bào thực vật, và chúng thay đổi dƣới các tác động của môi trƣờng và các giai đoạn phát triển của cây. Thông thƣờng, lignin từ các loài thực vật hạt kín hai lá mầm (cây gỗ cứng) bao gồm ba thành phần (G), (S) và (H), trong khi đó các loài thực vật hạt trần (gỗ mềm) chỉ bao gồm (G) và (H).
Lignin từ các loài cây một lá mầm thƣờng bao gồm hai thành phần (G) và (S) với tỉ lệ thích hợp. Giới thiệu về gen mã hóa cho enzyme cinnamyl alcohol dehydrogenase (CAD) Cinnamyl alcohol dehydrogenase (CAD) là một enzyme quan trọng trong con đƣờng sinh tổng hợp lignin. Gen mã hóa cho enzyme CAD có kích thƣớc 5265 bp và mã số X75480 trên ngân hàng gen quốc tế NCBI. Enzyme CAD là enzyme xúc tác cuối cùng trong con đƣờng sinh tổng hợp lignin.
Gen mã hóa cho enzyme CAD đã đƣợc nghiên cứu ở nhiều loài thực vật nhƣ: Arabidopsis thaliana, Oryza sativa và cây Bạch dƣơng (Populus). Năm 2009 Barakat và cộng sự [6] đã tiến hành những nghiên cứu rất đầy đủ về họ gen CAD ở cây Bạch dƣơng. Kết quả thấy rằng họ gen CAD ở cây bạch đàn đƣợc phân ra làm ba lớp chính mà một trong số đó là đại diện của các trình tự gen CAD đƣợc phân lập từ các thực vật hạt trần và thực vật hạt kín. Hai phân lớp khác là đại diện của các trình tự gen CAD đƣợc phân lập chỉ từ các thực vật hạt kín.
Gen CAD, ngoại trừ gen PoptrCAD 4 thì hầu hết tồn tại trong hai phân lớp II và III. Nghiên cứu cũng chỉ ra các tiểu phần gen CAD tham gia vào quá trình phát triển của hệ mạch gỗ trong thân cây nhƣ PoptrCAD 4 và 7 PoptrCAD 10 thuộc lớp I và lớp II. Hầu hết các gen CAD đều phân bố ngẫu nhiên trên các khối mô và thƣờng có các vị trí tƣơng đồng ở các khối mô lặp lại trong thực vật. Đây đƣợc xem là sự nghiên cứu toàn diện đầu tiên về dòng Gen mã hóa cho enzyme CAD trong thực vật thân gỗ bao gồm các nghiên cứu về hệ gen, cấu trúc gen, hệ thống phát triển của thực vật theo chiều ngang và quá trình hình thành cấu trúc bên trong cây Dƣơng (Populus) [6].