phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương như sau: Chƣơng 1. Tổng quan làng Hạ Lôi 1. Khái niệm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể 1. Lý luận về làng văn hóa và văn hóa làng 2.
Tổng quan về làng Hạ Lôi 1. Nền tảng tự nhiên 1. Lịch sử hình thành làng Hạ Lôi 1. Tình hình kinh tế, văn hóa – xã hội làng Hạ Lôi 3.
Tiểu kết Chƣơng 2. Một số di sản văn hóa vật thể và phi vật thể làng Hạ Lôi 2. Một số di sản văn hóa vật thể của làng Hạ Lôi 2. Đền thờ Hai Bà Trưng 2.
Đền thờ thánh Cốt Tung 2. Đình làng Hạ Lôi 2. Một số di sản văn hóa phi vật thể của làng Hạ Lôi 2. Lễ hội đền Hai Bà Trưng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phong tục, tôn giáo và tín ngưỡng 2. Các truyền thuyết cổ 2. Tiểu kết Chƣơng 3. Thự trạng và sự tác động của quá trình đô thị hóa đến nền kinh tế - xã hội và văn hóa hiện nay của làng Hạ Lôi 3.
Thực trạng và những biến đổi trong đời sống kinh tế văn hóa xã hội hiện nay của làng Hạ Lôi 3. Thực trạng và những tác động của quá trình đô thị hóa đến kinh tế - xã hội hiện nay của làng Hạ Lôi 3. Thực trạng và những biến đổi trong đời sống văn hóa và lễ hội hiện nay của làng Hạ Lôi 3. Sự biến đổi trong đời sống văn hóa 3.
Sự biến đổi trong hoạt động lễ hội tại đền Hai Bà Trưng 3. Biện pháp và gơi ý định hướng phát triển làng Hạ Lôi 3. Xây dựng làng nghề trồng hoa theo hướng phát triển bền vững 3. Khôi phục một số di tích và những truyền thuyết đã mất 3.
Điều chỉnh hoạt động lễ hội 3. Phát triển dịch vụ du lịch – văn hóa 3. Gợi ý định hướng phát triển làng Hạ Lôi. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ LÀNG HẠ LÔI 1.
Khái niệm văn hóa Như chúng ta đều viết, bàn về văn hóa đã có hàng trăm bài viết, công trình nghiên cứu về khái niệm này, nhưng cho đến nay, giới nghiên cứu khoa học, giảng dạy về văn hoá trong nước cũng như trên thế giới vẫn chưa thống nhất được một khái niệm chung nhất. Ở mỗi lĩnh vực khác nhau, các nhà khoa học lại đặt ra một khái niệm riêng cho mình để nghiên cứu. Mỗi thể chế chính trị, mỗi quốc gia, mỗi ngành khoa học xã hội nhân văn cũng có một khái niệm về văn hoá riêng biệt. Nhiều nhà khoa học đi thống kê các khái niệm văn hoá và có thể tìm thấy hàng vài trăm khái niệm.
Vào năm 1952, hai nhà nhân học người Mỹ là A.Klaxon đã thu thập được 164 cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ văn hoá. Trong cuốn “Triết học văn hoá” M.Kagan thu thập được hơn 70 cách định nghĩa khác nhau. Tại Hội nghị về văn hoá UNESCO tại Mêhicô năm 1982, người ta cũng đã đưa ra 200 định nghĩa về văn hoá. Hiện nay thì số lượng khái niệm về văn hoá ngày càng tăng thêm và khó mà thống kê hết được.
Qua quá trình tìm hiểu về văn hoá, có thể định vị một số dạng tiêu biểu của các khái niệm về văn hoá và quy các dạng khái niệm về văn hoá như sau: Văn hoá theo nghĩa rộng nhất là khái niệm văn hoá bao gồm tất cả những sản phẩm vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo ra và mang tính giá trị. Theo khái niệm này, có thể thấy văn hoá bao gồm cả vật chất và tinh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thần, cả kinh tế lẫn xã hội. Có lẽ đây là những khái niệm theo nghĩa rộng nhất về văn hoá. Một số khái niệm dù không theo nghĩa rộng như trên nhưng vẫn theo nghĩa rộng kiểu như: Văn hoá là nền tảng tinh thần xã hội, văn hoá là tất cả đời sống tinh thần của con người v.v… Đa số các nhà nghiên cứu, giảng dạy về văn hoá ở Việt Nam là những người được đào tạo trong khối các nước Xã Hội Chủ Nghĩa trước đây.
Vì vậy, khái niệm được sử dụng nhiều nhất và gây ảnh hưởng nhiều nhất trong lý thuyết và áp dụng thực tiễn ở Việt Nam là khái niệm văn hoá của Liên Xô (cũ). “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần, được nhân loại sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội; Các giá trị ấy nói lên trình độ phát triển của lịch sử loài người”[72, tr62] Đây là một khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng, mang tính triết học, có phần nghiêng về hoạt động sáng tạo trong lịch sử xã hội loài người, thiên về tính giá trị, được hình thành trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê nin. Trong cuốn “Cơ sở văn hoá Việt Nam”, GS Viện sĩ Trần Ngọc Thêm (cũng học tập ở Liên Xô) đưa ra khái niệm: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội ”. [50, tr10] Có thể thấy hai khái niệm nêu trên có sự tương đồng.
Theo đó, văn hoá được hình thành từ khi con người biết sáng tạo (có nghĩa là văn hoá hình thành cùng với sự hình thành loài người). Văn hoá là tất thảy những sản phẩm vật chất (văn hoá vật thể) và tinh thần (văn hoá phi vật thể) do con người sáng tạo ra trong quá khứ, hiện tại. Cả hai khái niệm nêu trên đều gắn với chữ “giá trị”. Có nghĩa rằng, không phải tất cả những sản phẩm con người sáng tạo ra đều là văn hoá mà chỉ những sản phẩm có chứa đựng giá trị (là cái có ích cho 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con người).
Cũng có nghĩa, những sản phẩm do con người làm ra (sáng tạo ra) nhưng không mang tính giá trị thì không phải là văn hoá (ví dụ: bom hạt nhân, heroin, chất độc hoá học, vũ khí giết người v. Những danh lam thắng cảnh như vịnh Hạ Long, động Phong Nha - Kẻ Bảng v.v… tuy không phải do con người làm ra nhưng con người tìm ra và thưởng thức vẻ đẹp của nó (thưởng thức là một sáng tạo) cũng là văn hoá. Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn". Chữ “giá trị” được ẩn dưới câu “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống… nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Những sản phẩm do con người phát minh ra mà Chủ tịch Hồ Chí Minh liệt kê nêu trên phải là những sản phẩm nhằm phục vụ cho con người, có nghĩa là chứa đựng những giá trị. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng.
Trong Hội nghị liên Chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại Venise, ông Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đưa ra khái niệm: "Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động". [73, tr21] Đây là khái niệm được đưa ra trong bối cảnh thế giới còn có sự phân biệt văn hoá dân tộc lớn, dân tộc nhỏ, văn hoá dân tộc này cao, dân tộc kia thấp, văn hoá dân tộc này văn minh, văn hoá dân tộc kia lạc hậu. Khái niệm nêu trên có ý nghĩa chính trị rất lớn về việc khẳng định mỗi dân tộc có bản sắc riêng. Quan điểm này càng được khẳng định tại Tại Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô để bắt đầu thập kỷ văn hoá UNESCO.
Hội nghị này có hơn một nghìn đại biểu đại diện cho hơn một trăm quốc gia tham gia từ ngày 26/7 đến 6/8 năm 1982, người ta đã đưa ra trên 200 định nghĩa. Cuối cùng Hội nghị chấp nhận một định nghĩa như sau: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng”. [72, tr8] Khái niệm trên vừa nói đến văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, vừa nói đến hệ giá trị và đặc biệt là nêu lên “những nét riêng biệt về văn hoá của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội”.
Như vậy, khái niệm trên cũng là khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng, kèm theo đó là quan điểm công nhận mỗi dân tộc dù lớn hay nhỏ đều có bản sắc văn hoá riêng biệt. Văn hoá theo nghĩa hẹp gồm những khái niệm gắn từ “văn hoá” với một chuyên ngành nào đó. Ví dụ: văn hoá dân gian, văn hoá bác học, văn hoá tôn giáo, văn hoá giao tiếp, văn hoá xã hội. văn hoá chính trị, văn hoá ứng xử (giao tiếp), văn hoá nghệ thuật, văn hoá giáo dục (học vấn), văn hoá kinh 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh, dân tộc học văn hoá, nhân học văn hoá, địa văn hoá, sử văn hoá, triết học văn hoá, xã hội học văn hoá v.v… Còn đối với những khái niệm văn hoá theo nghĩa hẹp, những từ được gắn với từ “văn hoá” sẽ chiếm vị trí chính yếu trong khái niệm đó.
Ví dụ khái niệm “văn hoá nghệ thuật” hay “văn học nghệ thuật” là khái niệm văn hoá gắn với việc sáng tạo, hưởng thụ và phê bình các chuyên ngành văn hoá nghệ thuật như âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh v.