Chương 1 HUY ðỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN ðẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ NGUỒN VỐN ðẦU TƯ CHO CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1. Cơ cấu kinh tế Sự phát triển của lực lượng sản xuất ñã thúc ñẩy phân công lao ñộng xã hội. Các ngành, lĩnh vực ñược phân chia theo tính chất sản phẩm, chuyên môn kỹ thuật.
Khi các ngành, lĩnh vực kinh tế hình thành, nó ñòi hỏi phải giải quyết mối quan hệ giữa chúng với nhau. Mối quan hệ ñó vừa thể hiện sự hợp tác, hỗ trợ nhau song cũng cạnh tranh nhau ñể phát triển. Sự phân công và mối quan hệ hợp tác trong hệ thống thống nhất là tiền ñề cho quá trình hình thành cơ cấu kinh tế [19]. Khi phân tích quá trình phân công lao ñộng xã hội trong cuốn “Phê phán chính trị học” [4.Mác ñã viết: “Cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất ñịnh của các lực lượng sản xuất vật chất”.Mác cũng còn nhấn mạnh, khi phân tích cơ cấu kinh tế phải chú ý dến cả hai khía cạnh chất lượng và số lượng.
Theo ông cơ cấu là sự phân chia về chất và một tỷ lệ về số lượng của những quá trình sản xuất xã hội. Từ ñiển bách khoa Việt Nam [49] viết “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương ñối ổn ñịnh hợp thành” và liệt kê các loại cơ cấu khác nhau: Cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh tế kỹ thuật, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo ñơn vị hành chính - lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế; trong ñó cơ cấu theo ngành kinh tế kỹ thuật trước hết là cơ cấu công - nông nghiệp - dịch vụ là quan trọng nhất”. 7 Kế thừa các quan niệm trên, có thể ñịnh nghĩa về cơ cấu kinh tế như sau: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế với tỷ trọng tương ứng của chúng và mối quan hệ hữu cơ tương ñối ổn ñịnh hợp thành. Trong nghiên cứu kinh tế, cơ cấu kinh tế thường ñược xem xét trên các phương diện: - Cơ cấu ngành kinh tế: Là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác ñộng qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các ngành với nhau [39].
Cơ cấu theo ngành nghề, phản ánh vị trí tỷ trọng các ngành, cấu thành nền kinh tế, một cách phổ biến bao gồm: + Ngành công nghiệp (thường bao gồm cả xây dựng cơ bản) + Ngành nông nghiệp, theo nghĩa rộng bao gồm nông-lâm-ngư nghiệp. + Ngành dịch vụ (thương nghiệp, vận tải, viễn thông,…) Cơ cấu ngành kinh tế còn ñược chia thành: Ngành sản xuất vật chất và ngành sản xuất phi vật chất hoặc ñược chia thành: Ngành sản xuất nông nghiệp và ngành sản xuất phi nông nghiệp. - Cơ cấu kinh tế theo các thành phần kinh tế: Là cơ cấu theo tỷ trọng tham gia vào cấu trúc nền kinh tế của các thành phần kinh tế. Cơ cấu thành phần kinh tế phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế.
Theo cách phân chia thống kê gồm: Kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước và kinh tế có vốn ñầu tư nước ngoài. - Cơ cấu kinh tế theo vùng - lãnh thổ: Loại cơ cấu này phản ánh những mối liên hệ kinh tế giữa các vùng lãnh thổ của một quốc gia trong hoạt ñộng kinh tế [43]. Cơ cấu vùng - lãnh thổ phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế - xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân thống nhất. 8 Việc phân chia các loại cơ cấu kinh tế như trên không phải là tất cả các cách phân loại cơ cấu kinh tế nhưng ñó là các cách phân loại phổ biến và ñược nghiên cứu nhiều nhất trong các nghiên cứu kinh tế.
Trong ñó nghiên cứu theo cơ cấu ngành kinh tế có ý nghĩa quan trọng nhất vì nó phản ánh sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phát triển của phân công lao ñộng xã hội [43]. Tính chất của cơ cấu kinh tế. ðể nhận thức ñúng ñắn xu hướng biến ñổi khách quan của cơ cấu kinh tế và vận dụng vào ñiều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng giai ñoạn phát triển nhất ñịnh cần lưu ý một số tính chất sau của cơ cấu kinh tế. - Tính chất khách quan Nền kinh tế có sự phân công lao ñộng, có các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất nhất ñịnh sẽ hình thành một cơ cấu kinh tế với tỷ lệ cân ñối tương ứng giữa các bộ phận, tỷ lệ ñó ñược thay ñổi thường xuyên và tự giác theo quá trình diễn biến khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng ñáp ứng yêu cầu ñó[19].
Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt kết quả phát triển kinh tế - xã hội của từng giai ñoạn phát triển nhất ñịnh. Nhưng không vì thế mà áp ñặt chủ quan, tự ñặt cho mình những tỉ lệ và những vị trí trái ngược với yêu cầu và xu thế phát triển của xã hội. Mọi sự áp ñặt chủ quan nóng vội nhằm tạo ra một cơ cấu kinh tế theo ý muốn, thường dẫn ñến tai họa không nhỏ, bởi vì sai lầm về cơ cấu kinh tế là sai lầm chiến lược khó khắc phục, hậu quả lâu dài. - Tính chất lịch sử xã hội Sự biến ñổi của cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với sự thay ñổi không ngừng của lực lượng sản xuất, nhu cầu tiêu dùng và ñặc ñiểm chính trị xã hội của từng thời kỳ.
Cơ cấu kinh tế ñược hình thành khi quan hệ giữa các ngành, lĩnh vực bộ phận kinh tế ñược xác lập một cách cân ñối và sự phân công lao ñộng diễn ra một cách hợp lý [19]; [43]. Sự vận ñộng và phát triển của lực lượng sản xuất là xu hướng phổ biến ở mọi quốc gia. Song mối quan hệ giữa con người với con người với tự nhiên 9 trong quá trình tái sản xuất mở rộng ở mỗi giai ñoạn lịch sử, mỗi quốc gia, mỗi vùng miền có sự khác nhau. Sự khác nhau ñó bị chi phối bởi quan hệ sản xuất, bởi các ñặc trưng văn hoá xã hội; bởi các yếu tố lịch sử của các dân tộc… Các nước có hình thái kinh tế xã hội giống nhau song cũng có sự khác nhau trong việc hình thành cơ cấu kinh tế, bởi vì ñiều kiện kinh tế, xã hội và quan ñiểm chiến lược ở mỗi nước khác nhau.
Cơ cấu kinh tế hợp lý Cơ cấu kinh tế hợp lý là một cơ cấu kinh tế có khả năng tạo ra quá trình tái sản xuất mở rộng [19]. Cơ cấu kinh tế hợp lý ñược xem xét trên các ñiều kiện sau: - Cơ cấu kinh tế phải phù hợp với các quy luật khách quan. - Cơ cấu kinh tế phải phản ánh ñược khả năng khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh tế trong nước và ñáp ứng ñược yêu cầu hội nhập với quốc tế và khu vực, nhằm tạo ra sự phát triển cân ñối và bền vững. - Cơ cấu kinh tế phải phù hợp với xu thế kinh tế, chính trị của khu vực và thế giới.
Ngày nay ñó là xu hướng quốc tế hoá, khu vực hoá, xu hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường năng ñộng [19]. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực ngày càng phát triển thì việc lựa chọn chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ khai thác ñược các lợi thế so sánh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu, là cơ sở cho sự chủ ñộng tham gia và thực hiện hội nhập thắng lợi. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và những mối liên hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tăng trưởng kinh tế Cơ cấu kinh tế là một phạm trù ñộng, nó luôn luôn thay ñổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không cố ñịnh.
Xét trong mối liên hệ với tăng trưởng kinh tế có thể thấy: Tăng trưởng kinh tế không phải là quá trình làm ra cùng một sản phẩm nhiều hơn mà còn là quá trình thay ñổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng. Tăng trưởng kinh tế và quá trình thay 10 ñổi cơ cấu kinh tế song hành trong môi trường và ñiều kiện phát triển kinh tế, giữa chúng có mối quan hệ “ñẩy kéo”. Sự thay ñổi cơ cấu ngành kinh tế hay cơ cấu thành phần kinh tế hay cơ cấu vùng kinh tế về thực chất là quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực vào các hoạt ñộng kinh tế tạo ra tăng trưởng. Khi nền kinh tế tăng trưởng qua các thời kỳ, thu nhập bình quân ñầu người tăng lên thì cơ cấu sản xuất, tiêu dùng thay ñổi.
ðiều ñó giúp giải thích vấn ñề thực tiễn: Nền kinh tế có mức sản lượng tính theo ñầu người càng cao thường có cơ cấu khác với các nước có sản lượng bình quân ñầu người thấp. Các nước kinh tế phát triển có ñặc ñiểm công việc khác với các nước kém phát triển và cơ cấu tiêu dùng là khác nhau. Mối liên hệ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ñặc biệt là cơ cấu ngành kinh tế với tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng vì gắn với nó là cả một ñộng thái về phân bổ các nguồn lực của một quốc gia, một ñịa phương trong những thời ñiểm nhất ñịnh vào những hoạt ñộng sản xuất riêng. Từ những phân tích trên cùng với khái niệm về cơ cấu kinh tế có thể ñưa ra khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế như sau: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay ñổi các tỷ lệ cân ñối giữa các bộ phận trong cơ cấu kinh tế cũ sang các tỷ lệ cân ñối mới thiết lập một cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu của phát triển kinh tế.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao hàm cả sự thay ñổi về số lượng các ngành, tỷ trọng của mỗi ngành và cả sự thay ñổi về vị trí, tính chất trong mối quan hệ nội bộ cơ cấu bộ phận cấu thành cơ cấu kinh tế.