Tổng quan luận án
Luận án "Chợ ở miền Đông Nam Bộ từ năm 1975 đến năm 2015" của Lê Quang Cần, bảo vệ tại Trường Đại học Vinh năm 2018, thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số 9.13), dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Quang Hồng và TS. Hồ Sơn Đài. Về mặt thực tế nghiên cứu, phạm vi thời gian được giới hạn từ năm 1975 đến năm 2010.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tác giả xác định chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ là một bộ phận quan trọng cấu thành mạng lưới giao thương hàng hóa, thúc đẩy sản xuất kinh tế và góp phần tạo nguồn thu ngân sách địa phương. Vùng Đông Nam Bộ có lịch sử hình thành và phát triển hơn 300 năm, song việc nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển và vai trò của chợ truyền thống trong giai đoạn này còn bỏ ngỏ. Tác giả nhấn mạnh rằng đến thời điểm thực hiện đề tài (2017), chưa có luận án tiến sĩ sử học nào nghiên cứu về chợ ở miền Đông Nam Bộ trong khoảng thời gian đề tài xác định.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định hai mục tiêu chính: (1) tái hiện một cách sinh động, toàn diện và có hệ thống diện mạo chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ từ năm 1975 đến năm 2010; (2) phân tích, đánh giá sự tác động của chợ truyền thống đối với đời sống kinh tế - xã hội của các tầng lớp nhân dân trong không gian và thời gian đề tài xác định.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định theo bốn hướng: Thứ nhất, nêu các nhân tố tác động đến sự hình thành, phân bố, diện mạo và hoạt động của chợ truyền thống; Thứ hai, trình bày cụ thể về quy mô, hoạt động, phương thức quản lý, đối tượng và hàng hóa trao đổi tại chợ; Thứ ba, phân tích sự tác động của chợ đối với đời sống kinh tế, văn hóa xã hội; Thứ tư, chỉ rõ tồn tại, hạn chế trong quá trình đầu tư xây dựng và quản lý chợ, từ đó đề xuất kiến nghị.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được xác định là chợ truyền thống, phân biệt với cửa hàng lương thực, hợp tác xã thương nghiệp, siêu thị và trung tâm thương mại. Về không gian, luận án giới hạn tại miền Đông Nam Bộ theo địa giới hành chính hiện hành gồm: TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước và Tây Ninh. Về thời gian, từ năm 1975 — gắn với sự thay đổi cơ chế quản lý Nhà nước đối với thương nghiệp — đến năm 2010, với các kế hoạch và chiến lược phát triển chợ theo từng giai đoạn.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại
Tác giả tổ chức tổng quan tài liệu theo ba nhóm chính.
Nhóm công trình nghiên cứu về chợ ở Việt Nam của tác giả trong nước bao gồm các công trình lịch sử kinh điển từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XXI. Trịnh Hoài Đức trong "Gia Định thành thông chí" đã liệt kê giản lược một số chợ ở Gia Định và Biên Hòa. Lê Quang Định trong "Hoàng Việt nhất thống dư địa chí" (đầu thế kỷ XIX, bản dịch Phan Đăng, Nxb Thuận Hóa, 2005) liệt kê nhiều chợ trên tuyến đường từ dinh Trấn Biên đến dinh Phiên Trấn. GS. Huỳnh Lứa trong "Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ" (1987) nêu sự ra đời một số chợ ở Gia Định và Biên Hòa nhưng chưa phân tích mối liên hệ giữa các chợ. Lê Quốc Sử trong "Một số vấn đề về lịch sử kinh tế Việt Nam" (1998) ghi nhận Gia Định có 12 chợ, Biên Hòa có 19 chợ. Vương Hồng Sển trong "Tự vị tiếng nói miền Nam" (1999) liệt kê hơn 15 chợ mỗi tỉnh vào năm 1939. Trần Gia Linh trong "Chợ quê Việt Nam" (Nxb Giáo dục, 2008) nghiên cứu 42 chợ từ Bắc Giang đến Phú Yên nhưng dừng lại trước vùng Nam Bộ. Nhâm Hùng với "Chợ nổi đồng bằng sông Cửu Long" (Nxb Trẻ, 2009) phân tích chợ nổi qua hai giai đoạn "ngăn sông cấm chợ" (1975-1985) và "phá rào" (1986-2009). Huỳnh Thị Dung trong "Chợ Việt" (Nxb Từ điển Bách khoa, 2011) đề cập nhiều loại hình chợ nhưng thống kê chưa đầy đủ các chợ tại miền Đông Nam Bộ. Trịnh Khắc Mạnh với "Chợ truyền thống Việt Nam qua tư liệu văn bia" (Nxb Khoa học xã hội, 2015, 716 trang) dừng lại ở không gian miền Bắc và Bắc miền Trung. Đặng Phong với "Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới" và "Tư duy kinh tế Việt Nam (1975-1989)" (đều do Nxb Tri thức phát hành, 2015) mô tả thực trạng "ngăn sông cấm chợ" nhưng không phải công trình chuyên khảo về hệ thống chợ miền Đông Nam Bộ.
Tác giả cũng tham khảo các luận văn thạc sĩ: Nguyễn Văn Hồ, "Chợ nổi Cần Thơ" (ĐH Đồng Tháp, 2007); Nguyễn Thị Hiền, "Chợ ở Thanh Hóa từ năm 1802 đến năm 1945" (ĐH Vinh, 2006); Nguyễn Thị Thanh Hà, "Chợ ở Nghệ An từ thế kỷ XIX đến năm 1945" (ĐH Vinh, 2009); Nguyễn Thị Hoa, "Chợ trong đời sống người Việt Nam Bộ" (ĐH KHXH&NV TP. Hồ Chí Minh, 2011).
Nhóm công trình nghiên cứu về chợ ở Việt Nam của tác giả nước ngoài gồm: Jean-Pierre Aumiphin (1994) với luận án tiến sĩ về sự hiện diện tài chính và kinh tế Pháp ở Đông Dương (1858-1939); John Barrow (2008), "Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793)"; Litana (2014), "Xứ đàng trong, lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17-18"; Kirstenw. Endres về chợ truyền thống Việt Nam đương đại ở miền Bắc; Caroline Grillot (2014) về buôn bán ở cửa khẩu Móng Cái; Esther Horat (2014) về chợ vải Ninh Hiệp, Gia Lâm; Lisa Barthelmes (2014) về người bán hàng rong tại Hà Nội; Christine Bonnin (2014) về chợ trâu tỉnh Lào Cai. Các bài viết của Grillot, Horat, Barthelmes và Bonnin đều đăng trên Tạp chí Dân tộc học số 3 (186)/2014 và được các dịch giả Nguyễn Văn Thắng, Trần Hồng Hạnh biên dịch, hiệu đính.
Nhóm công trình nghiên cứu riêng về chợ ở miền Đông Nam Bộ bao gồm địa phương chí (tỉnh Phước Tuy năm 1961, Gia Định năm 1971), Lê Hương với "Chợ trời biên giới Việt Nam - Cao Miên" (Nxb Quỳnh Lâm, 1970), Lương Văn Lựu với "Biên Hòa sử lược toàn biên" (tự xuất bản, 1971), Nguyễn Đình Đầu với "Địa bạ triều Nguyễn Biên Hòa" (Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1994), "Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh" (Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1998), "Địa chí Đồng Nai" (Nxb Đồng Nai, 2001), Nguyễn Hoàng Tố Uyên với "Chợ và siêu thị trong đời sống văn hóa" (Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2006), Nguyễn Ngọc Cát với "Chợ Bến Thành qua cuộc trăm năm" (Nxb Hội nhà văn, 2014), Nguyễn Thanh Lợi với "Sài Gòn đất và người" (2015) khảo cứu 362 chợ trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Các chuyên khảo tiếng Pháp thời thuộc địa cũng được khai thác: "Monographie de la Province de Thu Dau Mot" (1910), "Monographie de la Province de Baria" (1902), "Monographie de la Province de Gia Dinh" (1902), "Monographie de la province de Biên Hòa 1923" của M. Robert.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tác giả nhận xét rằng các công trình hiện có hoặc chỉ liệt kê sơ lược tên chợ, hoặc nghiên cứu theo từng địa phương đơn lẻ, hoặc dừng lại trước năm 1975, hoặc không phải công trình chuyên khảo sử học về chợ ở miền Đông Nam Bộ giai đoạn sau giải phóng. Khoảng trống mà luận án xác định giải quyết là nghiên cứu có hệ thống chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn 1975-2010, bao gồm toàn bộ sáu tỉnh, thành theo địa giới hành chính hiện hành, qua cả hai thời kỳ bao cấp và đổi mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin làm cơ sở nghiên cứu. Khái niệm "chợ" được xác lập từ ba nguồn chính: "Đại Từ điển tiếng Việt" (2003, 2004), "Từ điển tiếng Việt" (2005), Từ điển thương mại (Business Dictionary), và Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ. Theo Nghị định 2003, chợ được phân thành ba loại: loại 1 (trên 400 hộ kinh doanh cố định), loại 2 (từ 100 đến dưới 400 hộ), và loại 3 (còn lại). Ngoài phân loại theo Nghị định 2003, luận án phân loại chợ theo tiêu chí địa bàn: chợ làng xã, chợ đô thị, chợ biên giới, chợ ven biển, chợ ven trục lộ giao thông.
Phân tích ma trận WOOT (một trong những công cụ được đề cập trong văn bản) được sử dụng để so sánh giữa siêu thị, trung tâm thương mại và chợ truyền thống.
Phương pháp nghiên cứu
Đây là luận án tiếp cận theo hướng định tính với phương pháp sử học là chủ đạo, có kết hợp điều tra xã hội học và khu vực học:
- Phương pháp lịch sử theo đồng đại và lịch đại là phương pháp chủ đạo và xuyên suốt.
- Phương pháp so sánh, thống kê, phân tích và tổng hợp, phương pháp logic.
- Điền dã, khảo cứu thực tế tại các chợ cũ và chợ mới từng tỉnh, thành ở miền Đông Nam Bộ.
- Phỏng vấn tiểu thương gắn bó với nghề buôn bán từ năm 1975 đến năm 2010.
- Điều tra xã hội học với bảng hỏi dành cho giới tiểu thương: bảng hỏi giai đoạn 1975-1985 gồm 20 câu hỏi; bảng hỏi giai đoạn 1986-2010 gồm 20 câu hỏi. Việc điều tra có xác nhận của Ban quản lý chợ hoặc chính quyền địa phương.
- Phân tích phần mềm WOOT để đối sánh các loại hình thương mại.
- Phương pháp khu vực học: đặt chợ truyền thống miền Đông Nam Bộ trong bối cảnh trong nước và thế giới (1975-2010).
- Hồi cố lịch sử.
Nguồn tư liệu
Luận án sử dụng ba nhóm nguồn tư liệu chính: (1) Tài liệu lưu trữ từ Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, các Nghị quyết Trung ương Đảng, Luật Quốc hội, Nghị định Chính phủ, Thông tư Bộ Thương mại (Bộ Công thương), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần VI và VIII, số liệu thống kê từ Cục thống kê quốc gia và các địa phương; (2) Tài liệu chuyên khảo bao gồm các công trình khoa học trong và ngoài nước, tạp chí chuyên ngành (Nghiên cứu Lịch sử, Khoa học xã hội Việt Nam, Khoa học xã hội TP. Hồ Chí Minh), kỷ yếu hội thảo, luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ; (3) Tài liệu điền dã gồm khảo sát thực tế, phỏng vấn và bảng hỏi điều tra xã hội học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này xác lập khái niệm "chợ" được sử dụng thống nhất trong luận án trên cơ sở đối chiếu từ điển tiếng Việt, từ điển thương mại quốc tế và văn bản pháp quy Nhà nước. Tác giả phân loại chợ theo nhiều tiêu chí: theo địa bàn (chợ làng xã, chợ đô thị, chợ vùng biên, chợ ven biển, chợ ven sông rạch, chợ ven trục lộ giao thông), theo thời gian (chợ phiên, chợ sáng, chợ chiều, chợ đêm), theo loại hàng hóa (chợ hoa quả, chợ trâu bò, chợ cá, chợ lao động), theo quy mô (chợ tỉnh, chợ huyện, chợ làng, chợ cóc), theo chức năng (chợ đầu mối, chợ chuyên doanh). Chương này điểm lại toàn diện tình hình nghiên cứu từ các công trình trong và ngoài nước, xác định ba nhận xét chính: các nghiên cứu của người nước ngoài chủ yếu sơ lược và riêng lẻ; tài liệu chữ Hán, chữ Nôm thời phong kiến đề cập chợ ở mức đậm nhạt khác nhau; tài liệu tiếng Việt phong phú nhưng chưa nghiên cứu chuyên sâu chợ miền Đông Nam Bộ giai đoạn 1975-2010. Tác giả khẳng định đề tài là "hoàn toàn mới" và không trùng lặp bất cứ công trình nào đã công bố đến năm 2017.
Chương 2: Chợ ở miền Đông Nam Bộ trong cơ chế quản lý bao cấp (1975-1985)
Chương này trình bày các nhân tố tác động đến hoạt động chợ. Về điều kiện tự nhiên: miền Đông Nam Bộ có diện tích 23.590,8 km², dân số 15,6 nghìn người (năm 2013), mật độ 655,0 người/km², bờ biển dài 350 km, diện tích rừng khoảng 532.200 ha (chiếm 2,8% diện tích rừng cả nước), hệ thống sông Đồng Nai là 1 trong 3 sông lớn nhất Việt Nam với lưu lượng mưa trung bình khoảng 1.000 mm/năm. Trữ lượng cá biển khoảng 290-704 nghìn tấn, chiếm khoảng 40% trữ lượng cá của vùng biển Nam Bộ. Các điều kiện tự nhiên này tạo thuận lợi cho sự hình thành hệ thống chợ ven sông, ven biển và ven trục lộ giao thông.
Về dân cư: theo số liệu Tổng điều tra dân số 2009, Đông Nam Bộ có tỷ lệ người nhập cư cao nhất cả nước; dân số di cư giữa các tỉnh chiếm trên 14% tổng dân số vùng; số lượng người di cư đến hơn 1,6 triệu người năm 2009. Dòng di cư lớn nhất là từ đồng bằng sông Cửu Long với hơn 714.000 người, tiếp đến từ Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung hơn 570.000 người, từ đồng bằng sông Hồng hơn 195.000 người. Số người nhập cư giai đoạn 2004-2009 tăng hơn 2,5 lần so với giai đoạn 1994-1999.
Về lịch sử hình thành chợ: theo nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn của Nguyễn Đình Đầu, đến năm 1945 miền Đông Nam Bộ có hơn 90 chợ. Trước năm 1975, theo tổng hợp địa phương chí Việt Nam Cộng hòa, miền Đông Nam Bộ có khoảng 170 chợ lớn nhỏ. Thương nhân người Hoa nắm gần như độc quyền hoạt động buôn bán lúa gạo, hàng khô và thực phẩm chế biến; số người buôn bán có môn bài ở Sài Gòn - Gia Định là 453 sổ trên tổng 471 sổ toàn miền Nam (ở mức 100.000 đồng).
Sau năm 1975, cơ chế "ngăn sông cấm chợ" được áp đặt, thay thế chợ truyền thống bằng hệ thống cửa hàng hợp tác xã lương thực và thực phẩm thương nghiệp quốc doanh. Đến năm 1980, số chợ ở miền Đông Nam Bộ còn khoảng 100 chợ. Nhiều chợ làng xã mới vẫn ra đời ở các vùng kinh tế mới như Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc (Đồng Nai), Đồng Phú, Bù Đăng, Lộc Ninh (Sông Bé), Dương Minh Châu, Gò Dầu, Tân Biên (Tây Ninh) nhưng quy mô rất nhỏ. Chương trình bày định mức phân phối nhu yếu phẩm thời bao cấp qua Bảng 2.1.
Chương 3: Chợ ở miền Đông Nam Bộ trong thời kỳ đổi mới và hội nhập
Chương này được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn 1986-1995: Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) với đường lối đổi mới về kinh tế thương mại tạo bước ngoặt cho sự phục hồi và phát triển hệ thống chợ. Số hộ kinh doanh thương nghiệp và dịch vụ tăng qua các năm 1990-1995 (Bảng 3.1). Số trang trại miền Đông Nam Bộ tăng theo thời gian (Bảng 3.2). Chỉ số sản xuất công nghiệp miền Đông Nam Bộ cũng được thống kê (Bảng 3.3).
Giai đoạn 1995-2010: Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ; tham gia ASEM năm 1996; trở thành thành viên APEC cuối năm 1998; gia nhập WTO năm 2007. Các cột mốc hội nhập này thúc đẩy mạnh mẽ hệ thống chợ truyền thống. Chương cung cấp số liệu cụ thể qua nhiều bảng: số lượng chợ phân theo huyện, thị, thành phố tại Đồng Nai từ 1996 đến 2010 (Bảng 3.4); dân số và chợ Bà Rịa - Vũng Tàu 1994-2010 (Bảng 3.5); dân số và chợ Bình Dương 1997-2010 (Bảng 3.6); quy hoạch phát triển hệ thống chợ Bình Phước năm 2009 (Bảng 3.7); dân số và chợ Bình Phước 1997-2010 (Bảng 3.8); dân số và chợ Tây Ninh 1997-2010 (Bảng 3.9). Hoạt động của chợ trong thời kỳ hội nhập được phân tích trên trang 85-115.
Chương 4: Tác động của chợ ở miền Đông Nam Bộ đối với đời sống kinh tế - xã hội
Chương này phân tích tác động của chợ trên hai chiều kinh tế và văn hóa - xã hội.
Về kinh tế: tác động trên lĩnh vực nông nghiệp được đánh giá qua số liệu số lượng bò theo địa phương (Bảng 4.1), số lượng lợn (Bảng 4.2), số lượng gia cầm (Bảng 4.3), diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản (Bảng 4.4). Trên lĩnh vực công nghiệp: giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế (Bảng 4.5). Trên lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp: doanh thu thuần cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể (Bảng 4.6). Trên lĩnh vực thương nghiệp: tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng (Bảng 4.7 và 4.8). Về nguồn thu ngân sách địa phương: số lượng chợ truyền thống có đến 31/12 hàng năm (Bảng 4.9) và số lượng chợ truyền thống đóng thuế đến 31/12 hàng năm (Bảng 4.10). Tác giả sử dụng ma trận WOOT (Bảng 4.11) để phân tích quan hệ cạnh tranh giữa siêu thị, trung tâm thương mại và chợ truyền thống; đồng thời vẽ sơ đồ mối quan hệ chợ truyền thống - Người tiêu dùng - Siêu thị và trung tâm thương mại (Bảng 4.12). Chương cũng khảo cứu một số thị trường nhập siêu chính của Việt Nam 6 tháng/2010 (Bảng 4.1 phụ) và kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2005-2011 (Bảng 4.2 phụ).
Về văn hóa - xã hội: chợ truyền thống góp phần giải quyết sinh kế người dân, phát triển tầng lớp tiểu thương mới ở nông thôn và thành thị, tạo ra bộ mặt xã hội mới ở các địa phương Đông Nam Bộ. Chợ biên giới dọc tuyến Campuchia thúc đẩy hoạt động buôn bán và trao đổi hàng hóa giữa nhân dân hai nước.
Kết quả và những đóng góp mới
Theo phần "Đóng góp của luận án", tác giả xác định ba đóng góp chính:
-
Đóng góp về tư liệu và tái hiện lịch sử: Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên có hệ thống và tương đối toàn diện về "Chợ ở miền Đông Nam Bộ từ năm 1975 đến năm 2010", góp phần thiết thực vào nghiên cứu lịch sử miền Đông Nam Bộ nói riêng và chợ truyền thống cả nước nói chung.
-
Đóng góp về đánh giá tác động: Từ góc độ sử học, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đánh giá sự tác động của chợ truyền thống đối với đời sống vật chất, tinh thần và giao lưu văn hóa trong nước, quốc tế theo không gian và thời gian đề tài xác định.
-
Đóng góp về thực tiễn: Luận án là tài liệu hữu ích trong biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương; xây dựng đề án, kế hoạch phát triển hiệu quả hệ thống chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ trong thế kỷ XXI.
Kiến nghị đề xuất: Trên cơ sở chỉ ra tồn tại, hạn chế trong quá trình quy hoạch, đầu tư xây dựng, quản lý và điều hành chợ, luận án đưa ra một số kiến nghị đối với các cấp chính quyền địa phương nhằm khắc phục hạn chế và phát huy vai trò của chợ truyền thống trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Tác giả thừa nhận trong phần tổng quan tài liệu rằng việc tiếp cận tài liệu nước ngoài còn có hạn: nghiên cứu sinh chỉ tiếp cận được các công trình của tác giả người Pháp và một số ít luận án tiến sĩ nước ngoài nghiên cứu về Việt Nam. Do phạm vi không gian giới hạn trong sáu tỉnh, thành miền Đông Nam Bộ, kết quả nghiên cứu không bao quát chợ truyền thống ở các vùng tiếp giáp như Tây Nam Bộ và Tây Nguyên. Phạm vi thời gian kết thúc năm 2010 không phản ánh được những biến đổi tiếp theo của hệ thống chợ trong giai đoạn thương mại điện tử và chợ online phát triển. Tác giả gợi mở rằng chợ ở TP. Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến năm 2010, chợ Bến Thành thời bao cấp và sau đổi mới, và hệ thống chợ tỉnh Đồng Nai giai đoạn 1975-2010 đều là những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng và lĩnh vực sau:
-
Nghiên cứu sinh và giảng viên thuộc các chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, lịch sử kinh tế, địa lý học lịch sử, nhân học và văn hóa học có thể tham khảo khung phân tích khu vực học, cách tiếp cận liên ngành, bộ bảng hỏi điều tra xã hội học hai giai đoạn và phương pháp phân tích ma trận WOOT trong nghiên cứu thương nghiệp địa phương.
-
Nhà nghiên cứu lịch sử địa phương của các tỉnh, thành miền Đông Nam Bộ có thể sử dụng phần tổng quan tài liệu (Chương 1) và các bảng thống kê số lượng chợ theo từng địa phương qua các năm như nguồn dữ liệu đối chiếu khi biên soạn lịch sử địa phương.
-
Người làm chính sách ở các sở, ngành thương mại (Sở Công thương), Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành miền Đông Nam Bộ có thể tham khảo phần kiến nghị và phân tích về quy hoạch phát triển hệ thống chợ (Chương 3), đặc biệt là quy hoạch chợ Bình Phước năm 2009 (Bảng 3.7) và ma trận so sánh giữa các loại hình thương mại (Bảng 4.11).
-
Nhà nghiên cứu kinh tế và xã hội học quan tâm đến mối quan hệ giữa di cư, tăng dân số và sự phát triển hạ tầng thương mại sẽ tìm thấy số liệu dân số nhập cư và hệ thống chợ theo từng tỉnh được trình bày song song trong Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Trước năm 1975, miền Đông Nam Bộ có bao nhiêu chợ và sau cơ chế bao cấp số lượng thay đổi như thế nào?
Theo tổng hợp địa phương chí Việt Nam Cộng hòa, miền Đông Nam Bộ trước năm 1975 có khoảng 170 chợ lớn nhỏ, phần lớn tập trung tại đô thị Sài Gòn. Đến năm 1945, theo nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn của Nguyễn Đình Đầu, con số là hơn 90 chợ. Sau khi cơ chế quản lý hành chính bao cấp "ngăn sông cấm chợ" được áp đặt, đến năm 1980, tổng số chợ ở miền Đông Nam Bộ còn khoảng 100 chợ, phần lớn là các chợ làng xã mới thành lập ở các vùng kinh tế mới với quy mô rất nhỏ.
2. Luận án sử dụng nguồn dữ liệu điền dã như thế nào và bảng hỏi được thực hiện ra sao?
Tác giả tiến hành điều tra xã hội học với bảng hỏi dành cho giới tiểu thương buôn bán ở chợ truyền thống, gồm hai bộ: bảng hỏi giai đoạn 1975-1985 có 20 câu hỏi và bảng hỏi giai đoạn 1986-2010 cũng có 20 câu hỏi. Việc điều tra đều có xác nhận của Ban quản lý chợ hoặc chính quyền địa phương để bảo đảm độ tin cậy. Ngoài ra, tác giả khảo sát thực tế hệ thống chợ cũ và chợ mới tại từng tỉnh, thành; phỏng vấn các tiểu thương có kinh nghiệm buôn bán từ năm 1975 đến năm 2010.
3. Luận án phân loại chợ truyền thống theo những tiêu chí nào?
Luận án sử dụng hai hệ thống phân loại song song. Theo Nghị định 02/2003/NĐ-CP của Chính phủ: chợ loại 1 có trên 400 hộ kinh doanh cố định, chợ loại 2 có từ 100 đến dưới 400 hộ, chợ loại 3 là các chợ còn lại. Theo tiêu chí địa bàn: chợ làng xã, chợ đô thị, chợ biên giới, chợ ven biển, chợ ven sông rạch, chợ ven trục lộ giao thông. Tác giả cũng ghi nhận phân loại theo thời gian họp (chợ phiên, chợ sáng, chợ chiều, chợ đêm), theo hàng hóa chuyên doanh (chợ hoa quả, chợ trâu bò, chợ cá, chợ lao động) và theo chức năng (chợ đầu mối, chợ chuyên doanh).
4. Vai trò của dân nhập cư đối với sự phát triển hệ thống chợ được luận án phân tích như thế nào?
Luận án dẫn số liệu Tổng điều tra dân số 2009: Đông Nam Bộ có tỷ lệ người nhập cư cao nhất cả nước với dân số di cư giữa các tỉnh chiếm trên 14% tổng dân số vùng, trong khi tất cả các vùng khác ở mức dưới 5%. Số lượng người nhập cư đến vùng hơn 1,6 triệu người năm 2009, tăng hơn 2,5 lần so với giai đoạn 1994-1999. Tác giả xác định mối quan hệ tác động hai chiều giữa dân số và chợ truyền thống: dân số tăng kéo theo nhu cầu mua bán tăng, từ đó thúc đẩy số lượng chợ tăng, và ngược lại, chợ là hạ tầng thương mại thu hút thêm dân cư và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
5. Chợ biên giới ở miền Đông Nam Bộ có đặc điểm gì riêng biệt theo ghi nhận của luận án?
Tác giả chỉ ra rằng chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ dọc biên giới Campuchia — điển hình là các chợ trên địa bàn tỉnh Tây Ninh và Bình Phước — đã thúc đẩy hoạt động buôn bán và trao đổi hàng hóa giữa nhân dân hai nước, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác trong xu thế hội nhập khu vực. Tác phẩm "Chợ trời biên giới Việt Nam - Cao Miên" của Lê Hương (Nxb Quỳnh Lâm, 1970) ghi nhận rằng trước năm 1975, các chợ biên giới trên địa bàn Tây Ninh và Bình Phước hoạt động ngoài trời, không lều quán, địa điểm không cố định, thường họp vào chiều tối hoặc gần sáng, với hàng hóa buôn lậu khá phổ biến; sau giao dịch, hàng hóa được luân chuyển về Sài Gòn, Bình Dương và Biên Hòa.
Kết luận
Luận án của Lê Quang Cần cung cấp một nghiên cứu lịch sử có hệ thống về diện mạo và hoạt động của chợ truyền thống ở miền Đông Nam Bộ qua hai giai đoạn bao cấp (1975-1985) và đổi mới - hội nhập (1986-2010), trong đó sự chuyển biến từ cơ chế "ngăn sông cấm chợ" sang tự do hóa thị trường được phân tích là nhân tố then chốt. Trên cơ sở kết hợp phân tích văn bản pháp quy, số liệu thống kê địa phương và tư liệu điền dã, luận án không chỉ phục dựng diện mạo hệ thống chợ mà còn đánh giá tác động của chợ đối với các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và đời sống văn hóa - xã hội tại sáu tỉnh, thành. Đây là công trình thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, có tiếp cận liên ngành với địa lý học, xã hội học và kinh tế học, phù hợp để tham chiếu trong nghiên cứu lịch sử địa phương và xây dựng chính sách phát triển thương mại tại vùng Đông Nam Bộ.