chương 1 cũng làm rõ các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và kết cấu của đề tài. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC LIÊN QUAN 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng số 2.
Khái niệm “Ngân hàng số (Digital Banking) là thuật ngữ ngân hàng đã xuất hiện và đề cập từ đây rất lâu nhưng chỉ trong những năm trở lại đây mới được sử dụng nhiều trong lĩnh vực ngân hàng. Theo Gaurav Sarma (2017), ngân hàng số là một hình thức ngân hàng số hóa tất cả những hoạt động và dịch vụ. Nói cách khác, tất cả những gì khách hàng có thể thực hiện ở các chi nhánh ngân hàng bình thường được số hóa và tích hợp vào một ứng dụng ngân hàng số duy nhất. Thông qua ứng dụng này, khách hàng không cần phải đến các chi nhánh ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện được tất cả các giao dịch, đồng thời các hoạt động của ngân hàng như quản lý rủi ro, nguồn vốn, phát triển sản phẩm, marketing, quản lý bán hàng,.
cũng được số hóa. BIDV đưa ra khái niệm: “Ngân hàng số là hoạt động ngân hàng dựa trên việc số hóa hầu hết các hoạt động ngân hàng: từ số hóa các kênh phân phối truyền thống và phát triển các kênh phân phối hiện đại đến tự động hóa quy trình hoạt động kinh doanh, ứng dụng phân tích dữ liệu lớn phục vụ quá trình ra quyết định và kiến tạo các sản phẩm số, ứng dụng các sản phẩm có tính sáng tạo” (Website: https: ///www.vn) Theo Nguyễn Thu Thủy và cộng sự (2020), ngân hàng số được hiểu là mô hình ngân hàng dựa trên nền tảng số hóa tích hợp tất cả các hoạt động và dịch vụ ngân hàng truyền thống, nhằm đảm bảo sự liền mạch trong mọi hoạt động của ngân hàng như: Chuyển khoản/giao dịch, kết nối và tư vấn cho khách hàng, đảm bảo tối đa tiện ích. Như vậy có thể hiểu, ngân hàng số như là một cấp độ phát triển mới, cao hơn 7 trong hoạt động ngân hàng với đặc trưng nổi bật là tất cả các quan hệ giao tiếp với khách hàng (front-end) cũng như quy trình xử lý nội bộ (back-end) đều được thực hiện trên nền tảng, các kênh số cùng với sự hỗ trợ của các mô hình kinh doanh mới, công nghệ số, giải pháp sáng tạo. Ngân hàng số hoạt động dựa trên ứng dụng tài chính hoặc website cho phép thực hiện hầu hết các giao dịch như tại một ngân hàng thông thường bằng hình thức trực tuyến thông qua mạng internet.
Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng được cung cấp bởi các ngân hàng số được gọi là dịch vụ ngân hàng số. Dịch vụ ngân hàng số cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch với ngân hàng đồng nhất và liền mạch trên tất cả các kênh gồm trang giao dịch trực tuyến được cung cấp trên website chính thức của ngân hàng hoặc tên miền khác được quy định tại từng thời kỳ và trên các ứng dụng ngân hàng di động được cài đặt trên thiết bị di động (điện thoại thông minh, máy tính bảng và các thiết bị di động khác). Các đặc điểm của dịch vụ ngân hàng số - Tất cả các dịch vụ cung cấp cho khách hàng được thực hiện trực tuyến thông qua các thiết bị di dộng với giao diện phong phú, trực quan và gắn kết. Điều này sẽ nâng cao sự tính trải nghiệm của hách hàng.
- Thời gian thực hiện giao dịch được rút ngắn vì quy trình nghiệp vụ ngân hàng được tự động hóa, từ đó giảm bớt hoặc xóa bỏ chi phí cho việc đi lại của khách hàng. - Nhiều sản phẩm tài chính mới như thanh toán di động, thị trường tài trợ vốn, cho vay ngang hàng, tín dụng vi mô, rô-bốt tư vấn, chuyển tiền dựa trên nền tảng sổ cái phân tán được thực hiện trên nền tảng công nghệ số, từ đó đáp ứng một cách đầy đủ nhất nhu cầu giao dịch của khách hàng. - Các dịch vụ ngân hàng số được thiết kế linh hoạt, tối ưu để bắt kịp tốc độ thay đổi của khách hàng và thị trường. CÁC LÝ THUYẾT NỀN LIÊN QUAN 2.
Lý thuyết hành vi người tiêu dùng 8 Hành vi người tiêu dùng là một thuật ngữ chỉ tất cả các hoạt động liên quan đến việc mua hàng, sử dụng và ngưng sử dụng các sản phẩm hàng hóa dịch vụ. Cụ thể là: - Hoạt động mua hàng: Nghĩa là người tiêu dùng mua sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ. Cách người tiêu dùng mua sản phẩm hàng hóa và dịch vụ và tất cả các hoạt động dẫn đến việc mua hàng bao gồm cả việc tìm kiếm thông tin, đánh giá hàng hóa và dịch vụ, phương thức thanh toán và bao gồm cả trải nghiệm của người dùng khi mua hàng. - Hoạt động sử dụng/ tiêu dùng: là việc sử dụng/ tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của người mua.
- Hoạt động xử lý: liên quan đến cách người tiêu dùng thải bỏ sản phẩm bao bì; cũng có thể bao gồm các hoạt động bán lại hay hoạt động ký gửi hàng hóa. Hành vi tiêu dùng bao gồm các phản ứng và thái độ về cảm xúc, tinh thần và hành vi tiêu dùng của khách hàng đã sử dụng trước đó trong lĩnh vực hàng hóa, sản phẩm dịch vụ này. Tóm lại, lý thuyết hành vi người tiêu dùng là việc sử dụng các nguyên tắc hành vi, thường đạt được bằng cơ sở thực nghiệm, để giải thích tâm lý tiêu dùng kinh tế của con người. Thuyết hành động hợp lý (TRA) Được phát triển bởi Fishbein và Ajzen (1975), thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) là một trong những lý thuyết nền tảng, được sử dụng để dự đoán hành vi của con người trong các lĩnh vực khác nhau, và có thể áp dụng trong nghiên cứu quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng số.
Theo TRA thì hành vi người tiêu dùng được quyết định bởi ý định hành vi (Behavior Intention –BI) và ý định hành vi được hình thành từ thái độ và chuẩn chủ quan. Ý định hành vi là nhân tố quan trọng nhất dự đoán hành vi tiêu dùng, trong đó có sử dụng dịch vụ ngân hàng số. Ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi hai nhân tố: thái độ và chuẩn chủ quan. Lý thuyết này cho rằng ý định hành vi được quyết định bởi thái độ của người tiêu dùng đối với việc mua hay sử dụng một nhãn hiệu hàng hóa thông qua sự ảnh hưởng của giá trị 9 chuẩn chủ quan (Fishbein và Ajzen , 1975).
Thái độ người tiêu dùng (Attitude): Thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực của cá nhân đó đối với sản phẩm (Fishbein và Ajzen , 1975). Áp dụng đối với dịch vụ ngân hàng số có thể hiểu khách hàng cảm nhận như thế nào, tiêu cực hay tích cực đối với loại dịch vụ này. Chuẩn chủ quan (Subjective Norm): Hành vi của một người phụ thuộc vào những người xung quanh anh ta nghĩ rằng anh ta nên hay không nên thực hiện hành vi nào đó (Fishbein và Ajzen , 1975). Như vậy, quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng số sẽ bị phụ thuộc, ảnh hưởng bởi những người liên quan xung quanh, họ sẽ quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng số nếu những người quen ủng hộ và khuyên họ sử dụng dịch vụ.
Niềm tin và sự Thái độ đánh giá Ý định Hành vi hành vi thực sự Niềm tin theo Tiêu chuẩn chuẩn mực và chủ quan Hình 2.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) (Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975) 2. Thuyết hành vi dự định (TPB) TPB (Theory of Planned Behavior) được đề xuất bởi Icek Ajzen để hoàn thiện khả năng suy đoán của Thuyết hành động hợp lý (TRA) bằng cách đưa vào nhân tố nhận thức kiểm soát hành vi. TPB đã được chứng minh thành công trong việc dự đoán và giải thích hành vi của con người qua cách sử dụng các công nghệ thông tin khác nhau (Ajzen, 1991). Theo TPB, thái độ đối với hành vi, các tiêu chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi cùng nhau định hình ý định hành vi, và ý định hành vi sẽ thúc đẩy hành vi cá nhân, đồng nghĩa trong đó có hành vi quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng số.
10 Niềm tin và sự Thái độ đánh giá Niềm tin theo Tiêu chuẩn chủ Ý định Hành vi chuẩn mực và quan hành vi thực sự Niềm tin kiểm soát Nhận thức và nhận thức dễ sử kiểm soát hành Hình 2.2: Mô hình lý thuyết hành vi dự định (TPB) (Nguồn: Ajzen, 1991) 2. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model), được mô phỏng dựa vào Lý thuyết hành động hợp lý TRA của Fishbein và Ajzen (1975), và được thiết kế chủ yếu cho việc chấp nhận mô hình công nghệ thông tin của người dùng (Davis và cộng sự, 1989). TAM là một trong những mô hình có ảnh hưởng nhất và được sử dụng rộng rãi trong những nghiên cứu về các nhân tố quyết định chấp nhận hệ thống thông tin, công nghệ thông tin, trong đó có các nghiên cứu về quyết định sử dụng SMB. Nhiều nghiên cứu trước đây đã mô phỏng và mở rộng mô hình này, kết quả đã được chứng minh thực nghiệm có giá trị cao.
TAM giả định rằng, ý định hành vi của một cá nhân chấp nhận một hệ thống được xác định bởi hai nhân tố, đó là nhận thức sự hữu dụng và nhận thức dễ sử dụng. Giữa hai nhân tố này, nhận thức dễ sử dụng có ảnh hưởng trực tiếp trên cả nhận thức sự hữu ích và sử dụng công nghệ (Davis và cộng sự, 1989). TAM thừa nhận rằng hai nhân tố này là nền tảng quyết định sự chấp nhận của người dùng đối với hệ thống, nó phổ biến trong việc thiết lập sử dụng công nghệ và có thể được áp dụng rộng rãi để giải quyết vấn đề về chấp nhận công nghệ của người dùng (Taylor và Todd, 1995). Như vậy, theo TAM, khách hàng sẽ quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng số nếu họ 11 nhận thấy dịch vụ này thật sự mang lại nhiều tiện ích, dễ sử dụng.
Nhận thức sự hữu dụng Thái độ hướng Ý định sử Sử dụng hệ tới sử dụng dụng thống thực sự Nhận thức tính dễ sử Hình 2.3: Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) (Nguồn: Davis, 1985) 2. Lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) Lý thuyết thống nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology) của Venkatesh và các cộng sự (2003), giải thích quyết định hành vi và hành vi sử dụng của người dùng đối với công nghệ thông tin.