CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU I. Lý thuyết về NHS. Quan điểm về NHS và các giai đoạn trong quá trình phát triển của NHS. Năm 2014, tác giả Chris đã coi: “NHS là mô hình hoạt động của ngân hàng mà trong đó, các hoạt động chủ yếu dựa vào các nền tảng và dữ liệu điện tử và công nghệ số, là giá trị cốt lõi của hoạt động ngân hàng.” Như vậy, NHS là một mô hình kinh doanh ngân hàng trên nền tảng công nghệ số.
Cụ thể hơn, là cách thức mà một tổ chức dựa hoàn toàn vào nền tảng công nghệ tiên tiến để thực hiện chức năng của một ngân hàng. Khái niệm NHS có phạm vi rộng hơn và toàn diện hơn đòi hỏi phải tích hợp số hóa đối với toàn bộ hoạt động của ngân hàng so với các khái niệm ngân hàng trực tuyến, ngân hàng ảo, ngân hàng điện tử. Vì thế, NHS chú ý áp dụng công nghệ vào các vấn đề liên quan đến mô hình tổ chức và quản trị, mô hình kinh doanh, trải nghiệm của khách hàng, phát triển các sản phẩm dịch vụ số, nâng cao hệ thống bảo mật và nguồn nhân lực chất lượng cao trong công cuộc số hóa toàn bộ ngân hàng. Đến năm 2018, tác giả Lê Nhân Tâm nói rằng: “Sự phát triển các NHS trên thế giới hiện nay đang trải qua ba giai đoạn chính như sau: Giai đoạn số hóa (digitization): Thay đổi các quy trình và dịch vụ theo hình thức truyền thống sang quy trình số, trực tuyến qua máy tính.
Giai đoạn chuyển đổi kỹ thuật số (digital transformation): Tích hợp và kết nối các quy trình số ở giai đoạn 1 với nhau để mang đến trải nghiệm khách hàng có tính cá nhân. (Như sáng kiến bán hàng đa kênh, hay xem các thông tin từ một nơi duy nhất.) Giai đoạn tái tạo số (Digital reinvention): Kết hợp công nghệ và nền tảng kỹ thuật số chưa từng có trước đây để tạo ra doanh thu và kết quả thông qua các chiến lược sản phẩm và trải nghiệm sáng tạo.” Trong khi các ngân hàng trên thế giới đang ở giai đoạn 3 của quá trình phát triển NHS thì hầu hết ngân hàng ở Việt Nam vẫn đang chỉ dừng lại ở giai đoạn 2. Để đạt được các tiêu chuẩn ở giai đoạn tái tạo số các ngân hàng ở Việt Nam cần không 13 ngừng đổi mới hệ sinh thái hình thành các ngân hàng thông minh với mục tiêu chính là sự hài lòng của khách hàng. Tóm lại, NHS là: Ngân hàng cho phép thực hiện các giao dịch bằng hình thức trực tuyến.
Các hoạt động như quản lý rủi ro, nguồn vốn, phát triển sản phẩm, marketing, quản lý bán hàng… được áp dụng công nghệ số hóa. Các hoạt động quản lý nhân sự, cốt lõi của bộ máy ngân hàng cũng được số hóa. NHS là giai đoạn phát triển cao hơn của ngân hàng điện tử. Khi chuyển sang mô hình NHS, ngân hàng phải thay đổi toàn bộ cấu trúc hệ thống từ cơ cấu tổ chức đến quy trình sản xuất và cung cấp sản phẩm, dịch vụ, vấn đề pháp lý, chứng từ và phương thức giao dịch với khách hàng.
Bản chất là mô hình kinh doanh, là hình thức số hóa tất cả những hoạt động và dịch vụ so với một ngân hàng truyền thống. Và sự phát triển của NHS bao gồm 3 giai đoạn: số hóa, chuyển đổi kỹ thuật số và tái tạo số. Mô hình kinh doanh của NHS. Khi nói đến “mô hình” trong khái niệm digital banking có nghĩa là nó ảnh hưởng đến toàn bộ cấu trúc hệ thống của một ngân hàng, từ cơ cấu tổ chức đến quy trình sản xuất và cung cấp sản phẩm dịch vụ, vấn đề pháp lý, chứng từ và phương thức giao dịch với khách hàng.
NHS khác hoàn toàn với dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ ngân hàng điện tử chỉ là “một phần câu chuyện”, không làm ảnh hưởng toàn bộ cấu trúc của ngân hàng mà chỉ mang tính bổ sung thêm trên nền tảng hiện tại. NHS trở thành một sàn giao dịch. NHS trở thành các điểm giao dịch một điểm đến (one stop shop) cho khách hàng bằng cách cung cấp các sản phẩm từ bên thứ ba. Ở phân khúc cho vay bán lẻ, một lượng lớn các công ty P2P lending (cho vay trực tiếp) đã xuất hiện.
Nghiệp vụ cho vay P2P đáp ứng nhu cầu vay tiền của các cá nhân hoặc doanh nghiệp thông qua nền tảng công nghệ trực tuyến kết nối trực tiếp khách hàng có nhu cầu vay vốn với người có tiền cho vay mà không cần ngân hàng. NHS hoạt động như một nhà cung cấp dịch vụ. 14 Mô hình kinh doanh NHS tương lai sẽ có những nét giống như hệ thống trung gian của các tổ chức thanh toán và có khả năng mở rộng nhanh chóng. Chỉ đóng vai trò làm cầu nối trung gian cho các bên và những người làm việc thực sự cho họ là chính khách hàng, ngân hàng và các công ty tham gia.
Theo hướng tư duy đó, có lẽ các ngân hàng cần tìm kiếm một giải pháp kết hợp thay vì nỗ lực đi một mình. Sự kết hợp của Fintech với ngân hàng có thể sẽ giúp lấp đầy những chỗ trống mà các Telco và ngân hàng vẫn chưa tiếp cận đến. Một đối tác có tư duy mới, nhạy bén với công nghệ với một đối tác có kinh nghiệm ngân hàng có lẽ sẽ là một sự kết hợp hoàn hảo để có thể mang lại những trải nghiệm hoàn hảo cho khách hàng. NHS: mô hình ngân hàng không chi nhánh.
Tại Mỹ, từ nhiều năm trước đây đã xuất hiện những ngân hàng trực tiếp cung cấp các dịch vụ cho khách hàng thông qua hệ thống core-banking mà không cần đến hệ thống phân phối truyền thống. ING Direct là một ngân hàng điển hình mà không có hệ thống mạng lưới chi nhánh và cũng không có lịch sử lâu đời nhưng ING Direct đã thành công và chiếm được cảm tình của các khách hàng với những gì ngân hàng này đã làm được. Mô hình kinh doanh dựa một nền tảng chung. GAFA: Đề xuất ngân hàng hoạt động dựa trên các nền tảng công nghệ tiêu dùng như Google, Facebook, Amazon và Apple.
Khi các hãng này có xu hướng tham gia rất đa dạng vào các hoạt động tài chính qua các nghiệp vụ như mua bán cổ phiếu, cho vay và thanh toán, ví dụ dịch vụ ví ảo, thanh toán của Google, Apple, Samsung, PayPal, Square hay Momo… thì sẽ là một trong số những nguy cơ đối với các ngân hàng là sự cạnh tranh trực tiếp đến từ hãng công nghệ. Các công ty Fintech đã nhanh chóng tiếp cận với sản phẩm và dịch vụ khai thác từ các nguồn như mạng xã hội, di động với tính năng sáng tạo cao và từng bước xâm lấn lĩnh vực thanh toán mà trước đây là sân chơi duy nhất của ngành ngân hàng với hàng loạt sản phẩm và tính năng vượt trội. Rõ ràng công nghệ đang đe dọa trực tiếp tới mô hình ngân hàng kiểu cũ và mở ra nhiều cơ hội lẫn thách thức cho các ngân hàng trong việc thích nghi với yêu cầu chuyển mình thiết yếu để không bị lùi lại trong cuộc đua ứng dụng công nghệ số. Đặc điểm của NHS.
Ứng dụng CNTT vào toàn bộ hệ thống ngân hàng: 15 NHS là một khái niệm khá mới mẻ tại Việt Nam dẫn đến có rất nhiều nhầm lẫn về cách thức hoạt động giữa NHS và các dịch mà các NHTM đang cung cấp như internet banking, mobile banking,. NHS là một mô hình kinh doanh hoàn chỉnh áp dụng nền tảng CNTT đến toàn bộ cấu trúc hệ thống của ngân hàng, từ cơ cấu tổ chức đến quy trình sản xuất và cung cấp sản phẩm dịch vụ, vấn đề pháp lý, chứng từ và phương thức giao dịch với khách hàng. An toàn trong lưu trữ thông tin liên quan đến khách hàng: Thế kỷ 21, cùng với sự phát triển không ngừng của các phát minh mới về khoa học kỹ thuật và công nghệ thì thủ đoạn lừa đảo được kẻ gian thực hiện bằng cách truy cập trái phép vào hệ thống lưu trữ dữ liệu để đánh cắp thông tin. Không chỉ các dịch vụ ngân hàng điện tử luôn phải đối mặt với các vấn đề rủi ro về bảo mật thông tin, các NHS cũng cần chú trọng đến thiết lập hệ thống bảo mật đủ an toàn để bảo vệ thông tin của khách hàng cũng như ngân hàng.
Bởi vì, ngoài những vấn đề phải đối mặt như kẻ gian lợi dụng lừa đảo tạo ra các thiệt hại và rủi ro đồng thời gây hoang mang khách hàng, thì với NHS, mô hình NHS hóa toàn bộ hệ thống rất dễ bị mất an toàn thông tin toàn bộ bộ máy quản lý, thiết lập dữ liệu của cả ngân hàng và khách hàng. Điều này khiến cho quản lý an toàn thông tin tại NHS yêu cầu mức độ bảo mật cao hơn rất nhiều. Không còn những chi nhánh ngân hàng, mọi giao dịch đều diễn ra trực tuyến: Dịch vụ ngân hàng không chi nhánh cho phép các ngân hàng phục vụ tốt hơn với nhiều phân khúc khách hàng, ngay cả người dân ở các vùng xa xôi, hẻo lánh khó tiếp cận được với ngân hàng hoặc những người có tài khoản với số dư thấp. Vì vậy, dịch vụ ngân hàng không chi nhánh là một giải pháp để ngân hàng đến với người dân.
Các NHS đều hỗ trợ khách hàng 24/7 qua kênh online. Khách hàng có thể liên hệ với người quản lý thông tin ngân hàng của mình qua mạng xã hội hoặc qua điện thoại bất cứ khi nào họ cần. Cung cấp đầy đủ sản phẩm dịch vụ với mức chi phí thấp hơn: Những năm gần đây, sự xuất hiện của điện thoại thông minh đã làm thay đổi cách con người giao tiếp và tương tác dẫn đến những thay đổi về kênh phân phối, mạng lưới bán hàng và việc thiết kế các sản phẩm mới của các NHTM. NHS và các giao dịch không cần giấy tờ sẽ trở thành xu hướng mạnh mẽ trong tương lai.
Nhờ ứng dụng CĐS, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng có thể được tích hợp nhiều sản phẩm phụ 16 trợ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Ngoài ra, các NHS có thể tiết kiệm chi phí văn phòng, nhân viên,. Ngoài việc giúp ngân hàng tiết kiệm chi phí thì khách hàng khi sử dụng NHS cũng có thể tiết kiệm các loại chi phí như di chuyển đi lại, thời gian, phí dịch vụ,. Quy trình số hóa đồng thời cũng đòi hỏi nguồn nhân lực chất lượng cao: Áp lực lớn nhất của các NHTM Việt Nam là thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là các chuyên gia tài chính ngân hàng quốc tế.