Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử của các NHTM 1. Khái quát về dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử được xuất phát từ khái niệm thương mại điện tử vì ngân hàng điện tử chính là tên gọi của thương mại điện tử trong lĩnh vực ngân hàng.
Thương mại điện tử (TMĐT) là kinh doanh trên môi trường điện tử nhằm kết hợp người bán và người mua. Nó tích hợp dữ liệu, liên lạc điện tử và dịch vụ bảo mật để tạo thuận lợi cho công việc kinh doanh. TMĐT là một tập hợp công nghệ, ứng dụng và quy trình kinh doanh nhằm liên kết các tổ chức, khách hàng và cộng đồng thông qua những giao dịch điện tử (Nguyễn Văn Hồng, Nguyễn Văn Thoan, 2013). Nhìn chung TMĐT là các dạng của giao dịch thương mại dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao số liệu số hoá bao gồm cả văn bản, âm thanh và hình ảnh.
Các hình thức hoạt động chủ yếu của TMĐT là: Thư tín điện tử, thanh toán điện tử, trao đổi dữ liệu điện tử, giao gửi số hoá các dữ liệu, bán hàng hóa hữu hình qua mạng. Dịch vụ TMĐT đã và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây và trở thành đề tài nóng hổi trong bất kỳ hội thảo nào về công nghệ thông tin. Việc chuyển đổi sang nền kinh tế mạng đang diễn ra với tốc độ nhanh hơn hầu hết mọi dự tính. Nền kinh tế mạng đòi hỏi các tổ chức tài chính phải tìm hiểu, phát triển chiến lược và đầu tư vào kinh doanh điện tử.
Thử thách này yêu cầu những mô hình kinh tế mới và phương thức mới để tiếp cận với khách hàng. Thương mại điện tử tạo nên một hình thức cạnh tranh mới, buộc ngân hàng phải chọn những dịch vụ mà khách hàng cần, quyết định quy mô các chi nhánh ngân hàng trong hệ thống và mở rộng hệ thống thanh toán liên ngân hàng. Sự tham gia của thương mại điện tử cũng làm nảy sinh các vấn đề về công nghệ của ngân hàng. Các ngân hàng giải quyết được những thách thức này sẽ quyết định được sự ảnh hưởng của 5 mình đối với thị trường điện tử hoá.
Đứng trước yêu cầu đó ngân hàng đã cho ra nhiều dịch vụ mới: dịch vụ ngân hàng qua điện thoại sử dụng mã cá nhân, hoặc nhận dạng giọng nói; dịch vụ ngân hàng qua mạng internet, khách hàng chỉ cần một máy tính cá nhân nối mạng internet là có thể giao dịch với ngân hàng mà không cần phải trực tiếp đến ngân hàng. Những dịch vụ này đã đưa đến một thực tế là, thế giới ngày nay cho ta thấy có một loại ngân hàng mới: ngân hàng điện tử. Thuật ngữ “Ngân hàng điện tử” giờ đây không còn quá xa lạ đối với khách hàng. Tất cả các ứng dụng của dịch vụ NHĐT như rút tiền từ một máy rút tiền tự động, trả tiền cho hàng hóa dịch vụ bằng thẻ tín dụng, kiểm tra số dư tài khoản qua mạng,… đều đang trở nên rất gần gũi và thân thuộc với tất cả mọi người.
Ngân hàng điện tử tiếng Anh là Electronic Banking, viết tắt là eBanking. Có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về e-Banking song nhìn chung e-Banking được hiểu là một loại hình thương mại về tài chính ngân hàng có sự trợ giúp của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính và công nghệ mạng (Nguyễn Minh Kiều, 2007). Ngân hàng điện tử là một phương thức cung cấp các sản phẩm mới và sản phẩm truyền thống đến khách hàng thông qua các kênh phân phối điện tử tương tác. Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về “dịch vụ ngân hàng điện tử” là dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng, qua đó khách hàng thực hiện các giao dịch tài chính, ngân hàng thông qua các phương tiện điện tử”.
Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng điện tử Các dịch vụ NHĐT đều được phát triển dựa trên công nghệ hiện đại Dịch vụ NHĐT phát triển gắn liền với sự phát triển của công nghệ thông tin. Không chỉ có các dịch vụ NHĐT mới sử dụng các phương tiện kỹ thuật tiên tiến mà các dịch vụ truyền thống trong ngân hàng cũng đang được nâng cấp, được hiện đại hóa. Đặc biệt là các sản phẩm mới đều sử dụng tối đa hàm lượng công nghệ thông tin trong đó (Nguyễn Minh Kiều, 2007). Chẳng hạn như dịch vụ thanh toán đang đáp ứng khá tốt các nhu cầu của khách hàng bởi sự thuận lợi về thủ tục giao dịch nhờ tổ chức theo mô hình giao dịch một cửa và khả năng cung ứng công nghệ hiện đại của hoạt động dịch vụ thanh toán.
Hay như các loại thẻ đang được cung cấp hiện nay. Thẻ điện tử thường được các ngân hàng liên kết phát hành nhằm tiết 6 giảm chi phí và tận dụng hệ thống của nhau. Thẻ này được sử dụng trên cơ sở một hệ thống mạng máy tính kết nối với nhau làm việc ở trình độ tự động hóa cao. Bản thân mỗi tấm thẻ có sức chứa hàng trăm, thậm chí hàng triệu dữ liệu thông tin và thông qua mạng máy tính thực hiện mỗi ngày hàng trăm bút toán tăng, giảm tài khoản tại các ngân hàng tham gia vào hệ thống thanh toán thẻ; đảm bảo nhanh chóng, an toàn, chính xác.
Các dịch vụ NHĐT thường là các sản phẩm mang tính trọn gói Chính vì thế đòi hỏi các ngân hàng phải thường xuyên bổ sung và nâng cao chất lượng dịch vụ. Hàm lượng công nghệ thông tin trong các sản phẩm, dịch vụ NHĐT là rất lớn (Nguyễn Minh Kiều, 2007). Điều đó đòi hỏi nguồn nhân lực ngoài nghiệp vụ chuyên môn thành thạo, nhiều kinh nghiệm thì họ cần phải có kiến thức về công nghệ thông tin. Những nhân viên ngân hàng là bộ mặt của ngân hàng, họ có nhiệm vụ giới thiệu trực tiếp đến các khách hàng dịch vụ của ngân hàng mình.
Với số lượng dịch vụ vô cùng đa dạng, liên tục gia tăng tính mới mẻ, các nhân viên ngân hàng luôn phải nâng cao tay nghề, nghiệp vụ, hiểu biết sâu rộng về sản phẩm và các ứng dụng khoa học công nghệ trong ngân hàng. Các dịch vụ NHĐT đòi hỏi trình độ nguồn nhân lực chất lượng cao Hiện nay các dịch vụ ngân hàng trên thế giới có tới hàng nghìn loại hình khác nhau như: dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ kinh doanh mua bán ngoại tệ, ủy thác, cho vay tiêu dùng, tư vấn tài chính…. Thêm vào đó, mỗi loại hình dịch vụ lại có thêm rất nhiều các hình thức cung cấp. Đơn giản như việc thanh toán qua ngân hàng có thể bằng điện thoại cố định, di động, hay qua mạng Internet… Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng phải đáp ứng trình độ nhất định, trong việc cập nhật công nghệ mới, trong việc giới thiệu sản phẩm tiện ích mới cho khách hàng, trong việc phân tích ưu nhược điểm của dịch vụ NHĐT cho khách hàng hiểu và đồng ý sử dụng.
Trước sức ép của tự do cạnh tranh, các ngân hàng luôn cố gắng phục vụ tốt nhất khách hàng của mình bằng cách nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, đặc biệt là nâng cao trình độ cán bộ nhân viên để phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn. Các dịch vụ NHĐT đòi hỏi vốn lớn để đầu tư cơ sở hạ tầng và công nghệ hiện đại 7 Mọi dịch vụ NHĐT đều gắn liền với yếu tố khoa học công nghệ và đòi hỏi phải có sự đầu tư rất lớn về cơ sở vật chất kỹ thuật (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Để có thể kết nối dữ liệu giữa các chi nhánh trong ngân hàng đồng bộ, các ngân hàng phải có hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, được quản lý bằng một hệ thống phần mềm hiện đại. Ngoài việc đầu tư phần mềm quản lý đó, hệ thống máy tính của các chi nhánh cũng cần được nâng cấp, đầu tư cho phù hợp.
Bên cạnh đó cũng phải đầu tư máy móc hỗ trợ cho việc sử dụng dịch vụ NHĐT như máy ATM cài đặt phần mềm nhận biết thẻ giả và gắn thiết bị skimming vào đầu đọc thẻ, máy POS, … phát hành các loại thẻ mà công nghệ của thẻ ngày càng tinh vi hơn để chứa đựng nhiều thông tin hơn cho khách hàng cũng như bảo mật tốt hơn… Nhìn chung, dịch vụ NHĐT đã mang lại cho khách hàng những tiện ích vượt trội so với dịch vụ truyền thống, khách hàng sử dụng các dịch vụ NHĐT không còn bị bó buộc bởi không gian, thời gian, hay đồng tiền thanh toán…Với các sản phẩm dịch vụ NHĐT, quan hệ giao dịch trực tiếp giữa ngân hàng và khách hàng mờ dần đi, thay thế vào đó khách hàng biết về ngân hàng thông qua các phương tiện truyền thông như điện thoại, mạng Internet, máy tính…Nhờ đó, khách hàng chỉ cần ngồi tại nhà, tại nơi làm việc… để thực hiện giao dịch mà không nhất thiết phải đến ngân hàng để thực hiện các giao dịch. Việc thực hiện giao dịch tại văn phòng hay tại nhà cũng đồng nghĩa với việc các giao dịch đó có thể được thực hiện mà không phụ thuộc vào giờ đóng mở cửa của các ngân hàng, nói cách khác là dịch vụ được cung ứng 24/24. Thậm chí ngay cả khi ra nước ngoài, khách hàng vẫn có thể sử dụng được dịch vụ nhờ mạng lưới ngân hàng được liên kết điện tử với nhau. Khách hàng không cần phải mang theo nhiều tiền mặt, cũng không phải lo mua bán ngoại tệ trước và sau khi đi.
Cung cấp các dịch vụ như vậy, ngân hàng đã không những tiết kiệm được khá nhiều thời gian và công sức cho khách hàng mà phần nào còn san sẻ cho họ những gánh nặng về rủi ro khi mang tiền theo người. Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử Đối với ngân hàng Dịch vụ NHĐT trong thời gian qua đã mang đến cuộc cách mạng trong hoạt động ngân hàng về mảng thị trường và quan hệ bạn hàng của NHTM trên thế giới. Có thể khẳng định rằng, đối với các NHTM, dịch vụ NHĐT có ý nghĩa vô cùng quan 8 trọng, cụ thể như sau: Giữ vai trò cốt yếu trong việc mở rộng khách hàng, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh Khách hàng là nhân tố quyết định thành công của tất cả các NHTM. Mở rộng đối tượng khách hàng là mục tiêu của bất kỳ ngân hàng nào.