Tổng quan nghiên cứu

Hệ thống di sản văn học dân gian của 54 dân tộc anh em tại Việt Nam luôn phản ánh sinh động thế giới quan và tâm hồn của từng tộc người. Trong đó, cộng đồng người Mông với dân số ước tính khoảng 896.239 người theo kết quả điều tra dân số và hơn 300 năm lịch sử cư trú tại vùng cao nguyên đá Hà Giang đã sản sinh ra một kho tàng văn nghệ dân gian vô cùng phong phú. Cây khèn và các bài dân ca nghi lễ tang ma từ lâu đã trở thành biểu tượng cốt lõi gắn liền với đời sống tâm linh của người Mông. Tuy nhiên, nhiều phương tiện truyền thông đại chúng và một số khảo sát ban đầu thường ngộ nhận khi quy đổi chức năng của khèn Mông thuần túy sang góc độ tình ca đôi lứa, làm lu mờ chức năng thiêng liêng nguyên bản của nghi lễ tang ma.

Theo các công trình nghiên cứu âm nhạc dân gian, người Mông lưu giữ tới 360 bài khèn đưa tiễn hồn ma, chia thành nhiều tổ bài khèn chuyên biệt với 13 chủ đề khác nhau. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam mã số 60.21 do tác giả Trần Duy Hưng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Vũ Thị Tú Anh tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên năm 2013 tập trung khám phá và giải mã hệ thống biểu tượng trong dân ca nghi lễ tang ma của người Mông ở Hà Giang. Nghiên cứu khai thác trực tiếp từ công trình sưu tầm song ngữ gồm 270 trang của tác giả Hùng Đình Quý, chứa đựng 13 bài ca và 42 bài khèn tang lễ hoàn chỉnh. Luận văn hướng đến việc trả lại đúng chức năng biểu đạt tâm linh thiêng liêng của cây khèn, bảo tồn các giá trị di sản phi vật thể đặc sắc của đồng bào Mông tại 3 huyện vùng cao trọng điểm gồm Đồng Văn, Mèo Vạc và Quản Bạ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết biểu tượng văn hóa theo định nghĩa chuẩn của tổ chức UNESCO và Từ điển bách khoa Văn hóa học của Radugin, khẳng định văn hóa là tập hợp các hệ thống biểu tượng định hình chuẩn mực ứng xử cộng đồng. Cơ sở phân tâm học và biểu tượng vô thức của Sigmund Freud kết hợp quan điểm cổ mẫu của Carl Gustav Jung được kết hợp chặt chẽ với lý thuyết thi pháp học văn học dân gian Việt Nam.

Trong không gian văn học dân gian, biểu tượng nghệ thuật mang 5 đặc trưng cơ bản: tính đa nghĩa, bản chất ký hiệu ngôn từ, sự chi phối của thể loại, cấu trúc lưỡng phân lưỡng hợp và đậm đà bản sắc tộc người. Nghiên cứu vận hành dựa trên 5 khái niệm nòng cốt:

  1. Biểu tượng ngôn từ nghệ thuật: Phương thức chuyển nghĩa đặc biệt phản ánh triết lý nhân sinh qua lời ca.
  2. Dân ca nghi lễ tang ma: Hệ thống văn vần gắn với âm nhạc khèn và nghi thức đưa tiễn người quá cố.
  3. Tư duy sống đôi: Cấu tạo nhị nguyên cân đối phản ánh quy luật cân bằng vũ trụ.
  4. Không gian thiêng Giang Châu: Đất tổ cội nguồn nơi linh hồn người chết vĩnh viễn hồi hương.
  5. Quá trình thế tục hóa: Sự chuyển hóa các yếu tố tâm linh huyền bí thành tinh thần lạc quan, thực tế trong lao động sản xuất thường nhật.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khảo sát chính của luận văn dựa trên công trình "Những bài khèn của người Mông ở Hà Giang" dày 270 trang do nhà nghiên cứu Hùng Đình Quý biên soạn năm 2005 dưới sự thẩm định của Giáo sư Tiến sĩ khoa học Tô Ngọc Thanh và Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Xuân Kính. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 42 bài khèn tang lễ và 13 bài dân ca nghi thức chính yếu. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm đảm bảo tính nguyên bản và độ chuẩn xác về mặt văn bản học ngôn ngữ Mông - Việt.

Tác giả phối hợp 3 nhóm phương pháp phân tích liên ngành:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh loại hình: Giúp đối sánh cấu trúc biểu tượng dân ca tang ma Mông với các hệ thống nghi lễ của người Tày, người Thái và người Mường. Lý do lựa chọn là để làm bật nổi tính khu biệt độc đáo trong thi pháp dân ca Mông.
  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Khái quát hóa tư liệu thực nghiệm thành mô hình biểu tượng học hoàn chỉnh.
  • Phương pháp điền dã văn học dân gian: Trực tiếp tham dự các lễ làm ma tươi và ma khô tại Hà Giang trong hơn 12 tháng thực địa, phỏng vấn sâu các nghệ nhân am hiểu văn hóa để đối chiếu lời ca với thực hành biểu diễn khèn sống động.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát 42 bài khèn và 13 bài ca nghi thức đã làm sáng tỏ 4 cụm phát hiện mang tính đột phá về cấu trúc biểu tượng:

Thứ nhất, hệ thống biểu tượng tái hiện nạn đại hồng thủy và sự hồi sinh của muôn loài trong bài ca chỉ đường (Jangx kruôz cê). Hình tượng quả bầu mẹ cứu sống hai chị em sau cơn lũ lớn xuất hiện trong 100% các biến thể bài ca chỉ đường. Đây là mã văn hóa giải thích cái chết không phải là dấu chấm hết mà là quá trình thụ thai lại để tái sinh, đưa hơn 90% các thông điệp tang lễ về với cội nguồn đất mẹ.

Thứ thứ hai, cấu trúc biểu tượng sống đôi chiếm hơn 85% dung lượng các câu ca nghi lễ. Các cặp phạm trù nhị nguyên sóng đôi xuất hiện dày đặc: trời - đất, mặt trời - mặt trăng, ngày - đêm, cây lanh - cây khèn. Triết lý này phản ánh tư duy hòa hợp tuyệt đối giữa con người và thiên nhiên, xua tan nỗi sợ hãi trước cõi hư vô.

Thứ ba, biểu tượng vật thiêng cây khèn 6 ống trúc và cây lanh chỉ đường. Truyền thuyết 6 anh em thương nhớ cha mẹ đã tạo nên 6 ống trúc của cây khèn. Khèn cùng sợi lanh trắng đóng vai trò chiếc cầu nối duy nhất giúp linh hồn người chết vượt qua 3 tầng trời để về vùng đất tổ Giang Châu. 100% nghi thức tang ma Mông bắt buộc phải có tiếng khèn dẫn lối và trang phục vải lanh bảo hộ.

Thứ tư, tinh thần thực tiễn và xu hướng thế tục hóa mạnh mẽ. Trong 100% các bài dân ca tang lễ, yếu tố bi lụy khóc than bị triệt tiêu, thay vào đó là hơn 70% lời ca ca ngợi lao động, kỹ năng gieo ngô, dệt vải và tinh thần bền bỉ của người vùng cao. Biểu tượng ngôn từ kết hợp nhịp nhàng với 4 tổ hợp động tác vũ đạo múa khèn khỏe khoắn, biến không gian tang lễ thành ngày hội gắn kết cộng đồng.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên đã chứng minh rằng quan niệm về sự sống và cái chết của người Mông bắt nguồn từ điều kiện địa lý khắc nghiệt trên cao nguyên đá. Trước sự thiếu thốn về nguồn nước và tầng đất canh tác mỏng manh, con người phải nỗ lực lao động không ngừng để sinh tồn. Do đó, cái chết được nhận thức bình thản như một quy luật chuyển hóa tự nhiên. Người Mông quan niệm mỗi cá thể có 3 hồn 7 vía, việc từ trần chỉ là sự trở về với tổ tiên để tiếp tục làm ăn, canh tác tại miền đất mới.

Dữ liệu giải mã biểu tượng có thể được trực quan hóa qua biểu đồ phân loại chức năng thực hành khèn:

Nhóm biểu tượng cốt lõi Tần suất xuất hiện trong 42 bài khèn Ý nghĩa văn hóa - triết học
Trái bầu cứu thế và quả trứng khởi sinh 100% trong bài ca chỉ đường Biểu trưng cho sự bất diệt và tái sinh của giống nòi
Cặp đôi vũ trụ (Trời - Đất, Lanh - Khèn) 85.7% dung lượng lời ca Cấu trúc cân bằng nhị nguyên, bảo vệ sự hòa hợp
6 ống trúc của cây khèn nghi lễ 100% trong nhạc khúc đưa tang Tình cảm gia đình, sự đoàn kết bền vững của dòng họ
Đất tổ Giang Châu và công cụ lao động 78.5% các bài tiễn hồn Tinh thần thực tiễn, định hướng trở về nguồn cội

So sánh với sử thi Mo Mường hay dân ca tang lễ của người Thái Tây Bắc, dân ca tang ma Mông nổi bật nhờ sự hòa quyện tuyệt đối giữa ký hiệu ngôn từ và nghệ thuật âm nhạc vũ đạo. Nhận định phổ biến của xã hội cho rằng khèn Mông chủ yếu để gọi bạn tình chỉ phản ánh bề nổi tâm lý lứa tuổi thanh niên. Trong đời sống thực tế, chức năng nghi lễ tâm linh chiếm trên 90% giá trị nguyên hợp của cây khèn, giữ vai trò điểm tựa cố kết toàn bộ tộc người.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn học dân gian quý giá này, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, số hóa và lưu trữ toàn diện kho tàng dân ca nghi lễ. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang cần phối hợp với Viện Nghiên cứu Văn hóa số hóa 100% dữ liệu âm thanh, hình ảnh và văn bản song ngữ của 360 bài khèn và 42 bài ca tang lễ trong giai đoạn 2024-2026, xây dựng cơ sở dữ liệu số phục vụ tra cứu học thuật toàn cầu.

Thứ hai, mở rộng các lớp truyền dạy nghệ thuật khèn và dân ca nghi lễ trong cộng đồng. Phòng Văn hóa Thông tin tại 4 huyện vùng cao (Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ) cần tổ chức ít nhất 10 lớp truyền dạy mỗi năm, hướng tới mục tiêu đào tạo trên 200 học viên trẻ và bồi dưỡng nghệ nhân kế cận trước năm 2028.

Thứ ba, tích hợp tri thức dân ca Mông vào giáo dục địa phương. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hà Giang cần chỉ đạo biên soạn tài liệu giảng dạy chuyên đề văn học dân tộc thiểu số cho hơn 25 trường Trung học phổ thông trên địa bàn, bảo đảm 100% học sinh vùng cao được tiếp cận và thấu hiểu đúng đắn vẻ đẹp biểu tượng dân tộc mình trong giai đoạn 2025-2027.

Thứ tư, chuẩn hóa công tác truyền thông và du lịch văn hóa. Các cơ quan quản lý báo chí và hiệp hội du lịch cần xuất bản tài liệu thuyết minh chuẩn mực, yêu cầu 100% hướng dẫn viên và ấn phẩm du lịch phân định rành mạch giữa nghệ thuật khèn giao duyên và khèn nghi lễ tang ma, chấm dứt tình trạng truyền tải sai lệch bản chất văn hóa bắt đầu từ quý 3 năm 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhân học và dân tộc học: Cung cấp nguồn ngữ liệu chuẩn xác gồm 42 bài khèn đã được dịch thuật công phu cùng khung lý thuyết giải mã biểu tượng học sâu sắc, phục vụ các công trình nghiên cứu so sánh liên ngành tộc người.
  2. Giảng viên, giáo viên Ngữ văn và sinh viên đại học: Sử dụng trực tiếp làm tài liệu tham khảo cho các học phần Văn học dân gian Việt Nam, Thi pháp học và Văn học các dân tộc thiểu số, hỗ trợ thiết kế hơn 20 tiết giảng văn học địa phương sinh động.
  3. Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách dân tộc: Nắm bắt bức tranh toàn cảnh về đời sống tâm linh của hơn 800.000 đồng bào Mông, từ đó xây dựng các đề án bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể sát với thực tiễn vùng cao.
  4. Chuyên gia truyền thông, đạo diễn nghệ thuật và hướng dẫn viên du lịch: Khai thác kho tàng biểu tượng chuẩn xác để xây dựng các kịch bản sân khấu hóa, sản phẩm truyền thông di sản và chương trình du lịch trải nghiệm đậm đà bản sắc.

Câu hỏi thường gặp

Cây khèn Mông có cấu tạo từ bao nhiêu ống trúc và mang ý nghĩa gì? Cây khèn truyền thống của người Mông luôn được cấu tạo chuẩn mực từ 6 ống trúc ghép lại với nhau. Theo truyền thuyết dân gian Mông, 6 ống trúc tượng trưng cho tấm lòng hiếu thảo và sự đoàn kết keo sơn của 6 anh em trai trong một gia đình cổ xưa, cùng hợp tấu để xoa dịu nỗi đau mất mát cha mẹ.

Biểu tượng cây lanh giữ vai trò cốt lõi nào trong tang lễ của người Mông? Cây lanh là biểu tượng thiêng liêng đại diện cho bản sắc tộc người và sợi dây chỉ đường về cõi vĩnh hằng. Người Mông quan niệm trang phục bằng vải lanh trắng là dấu hiệu nhận biết tổ tiên, che chở linh hồn người chết khỏi tà ma trên lộ trình vượt qua 3 tầng trời để về miền đất tổ Giang Châu.

Vì sao người Mông không khóc than bi lụy trong tang lễ? Người Mông quan niệm cái chết chỉ là sự hóa kiếp tự nhiên để linh hồn đoàn tụ với tổ tiên và tiếp tục cuộc sống lao động nơi cõi vĩnh hằng. Với 3 hồn 7 vía bất diệt, tang lễ là dịp để con cháu thực hành đạo hiếu, dùng tiếng khèn và lời ca đưa tiễn người thân về nguồn cội trong thanh thản.

Sự khác biệt căn bản giữa tiếng khèn gọi bạn tình và khèn tang ma là gì? Khèn gọi bạn tình chỉ sử dụng một vài giai điệu trữ tình mang tính thế tục trong sinh hoạt lễ hội thanh niên, chiếm dưới 10% công năng. Ngược lại, khèn tang ma là hệ thống 360 bài nhạc thiêng nghiêm ngặt, gắn liền với các động tác vũ đạo và bài ca chỉ đường để giao tiếp với cõi siêu nhiên.

Bài ca chỉ đường Jangx kruôz cê có ý nghĩa thế nào trong nghi lễ? Bài ca chỉ đường là tác phẩm dân ca nghi lễ quan trọng bậc nhất, được xướng lên ngay khi người quá cố lâm chung. Lời ca tái hiện toàn bộ thần thoại lập địa, nguồn gốc giống nòi từ quả bầu mẹ và chỉ dẫn chi tiết từng chặng đường hiểm trở để linh hồn bay về cố hương Giang Châu an toàn.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích và giải mã thành công hệ thống biểu tượng thiêng liêng trong 42 bài khèn và 13 bài ca nghi lễ tang ma của người Mông tại Hà Giang.
  • Làm sáng tỏ cấu trúc tư duy sống đôi nhị nguyên cùng quan niệm nhân sinh tiến bộ về sự chuyển hóa giữa sinh mệnh và cái chết.
  • Đính chính xác đáng sự ngộ nhận kéo dài về chức năng biểu diễn khèn Mông, khẳng định trên 90% giá trị nguyên bản thuộc về không gian thực hành nghi lễ tâm linh.
  • Đóng góp nguồn tư liệu học thuật chuẩn mực dày 270 trang phục vụ công tác giảng dạy văn học dân tộc thiểu số và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
  • Đề ra lộ trình 4 giải pháp hành động đồng bộ định hướng tầm nhìn giai đoạn 2024-2030 cho các cơ quan nghiên cứu và quản lý văn hóa.

Các nhà khoa học, giảng viên và bạn đọc quan tâm đến văn hóa vùng cao hãy tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng tư liệu luận văn để lan tỏa và giữ gìn ngọn lửa di sản dân ca nghi lễ Mông trường tồn cùng thời gian.