CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG BẢO TRỢ XÃ HỘI 1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO TRỢ XÃ HỘI 1. Bảo trợ xã hội Bảo trợ xã hội là một thuật ngữ được dịch ra từ cụm từ social security. Đây là thuật ngữ xuất hiện trong một đạo luật của Mỹ năm 1935.
Trong đạo luật này bảo trợ xã hội được hiểu là sự bảo đảm nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị cá nhân, đồng thời tạo lập cho mỗi con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tột độ. Thuật ngữ bảo trợ xã hội cũng được Tổ chức lao động quốc tế ILO ghi nhận: “bảo trợ xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con. Ở nước ta, thuật ngữ bảo trợ xã hội được nhắc đến nhiều trong những năm gần đây. Tuy nhiên, một số nội dung thuộc phạm trù này đã tồn tại từ các thời kỳ trước đó.
Trong thời kỳ phong kiến, những hoạt động mang tính bảo trợ xã hội đã được hình thành như quỹ “nghĩa điền”, “nghĩa thương”, các hội, phường. nhằm cưu mang những người nghèo đói bất hạnh. Bên cạnh đó, các triều đại vua chúa thường ban phát cứu giúp những người khốn khó, đói nghèo những lúc mất mùa, thiên tai, đói kém. Đến thời kỳ Pháp thuộc, bên cạnh việc thực hiện các hình thức bảo trợ xã hội truyền thống trong từng cộng đồng làng, xã, thực dân pháp đã xây dựng lên những cô nhi viện, nhà tế bần, thực hiện một số chế độ trợ cấp tai nạn lao động, ốm đau cho thợ mỏ, chế độ Luan van 10 hưu bổng cho những người làm việc trong bộ máy Nhà nước.
Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Chính phủ tập trung vào các lĩnh vực cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội và thực hiện chế độ một số quyền lợi của bảo hiểm xã hội cho một số đối tượng nhất định. Hiện nay, thuật ngữ bảo trợ xã hội được tiếp cận dưới nhiều tên gọi khác nhau như: An sinh xã hội, bảo tồn xã hội, bảo đảm xã hội, trật tự an toàn xã hội. Có quan điểm cho rằng bảo trợ xã hội trước hết là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình nhờ một loạt các biện pháp công cộng nhằm giúp đỡ chống lại sự thiếu hụt về kinh tế mà họ có thể gặp phải do mất đi hoặc bị giảm quá nhiều nguồn thu nhập bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.
Bảo trợ xã hội còn thể hiện sự giúp đỡ, chăm sóc về văn hoá, y tế và trợ giúp cho các gia đình góp phần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Theo Bộ Lao động – Thương bình và xã hội (1999), Bảo trợ xã hội là thực hiện các chính sách, chế độ, các hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hòa nhập với cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội [3]. Theo quan điểm trên, tác giả chọn khái niệm này làm định hướng chính cho nghiên cứu luận văn của mình về hoạt động bảo trợ xã hội. Cơ sở của hoạt động bảo trợ xã hội a.
Phân phối lại thu nhập quốc dân Để đảm bảo công bằng xã hội, Chính phủ phải tiến hành phân phối lại thu nhập. Song, phân phối lại thu nhập bằng cách nào để kích thích sử dụng có hiệu quả các nguồn lực ? Vấn đề này đòi hỏi Chính phủ phải đưa ra cách phân phối phù hợp [41]. Luan van 11 Thực chất của phân phối lại thu nhập là lấy bớt của người giàu hơn cho người nghèo hơn. Quá trình phân phối lại thường được thực hiện qua thuế, trợ cấp và chi tiêu công cộng của Chính phủ.
Chính phủ có thể trợ cấp cho người nghèo bằng cách chuyển giao tiền tệ, chuyển giao hiện vật hoặc trợ cấp qua giá cả. Mỗi một phương thức trợ cấp đều có những ưu điểm và hạn chế, việc vận dụng nó trong thực tế tùy thuộc vào mục tiêu trợ cấp của chính phủ. Vậy cách trợ cấp nào hay hơn ? Cần phải đánh giá cách thức trợ cấp, và điều đó còn phụ thuộc vào mục tiêu trợ cấp của Chính phủ. Với chức năng này, bảo đảm xã hội sẽ điều tiết phân phối thu nhập, cân đối, điều chỉnh nguồn lực để tăng cường cho các vùng nghèo, vùng chậm phát triển, tạo nên sự phát triển hài hòa giữa các vùng, giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng; giữa các nhóm dân cư.
Công bằng xã hội Công bằng xã hội là một giá trị cơ bản và có tính định hướng trong việc thỏa mãn nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của những bộ phận dân cư và mọi thành viên xã hội thông qua mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ phù hợp với khả năng hiện thực của những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Khái niệm công bằng xã hội mang tính lịch sử, nghĩa là tùy trình độ phát triển kinh tế xã hội, tùy những điều kiện lịch sử khác nhau mà nội dung của công bằng xã hội được hiểu khác nhau. Trong xã hội XHCN, công bằng gắn liền với nguyên tắc phân phối theo lao động; tiêu chuẩn chủ yếu quyết định phẩm giá, địa vị xã hội, quyền hưởng dụng các phúc lợi xã hội của mỗi người tương ứng với hoạt động có ích của người đó trong xã hội. Bên cạnh đó, công bằng xã hội còn mang tính chuẩn tắc, nghĩa là tùy thuộc nhiều vào quan điểm của con người.
Luan van 12 Các nhà kinh tế sử dụng hai khái niệm nói lên công bằng xã hội. Đó là công bằng theo chiều dọc và công bằng theo chiều ngang [41]. Công bằng theo chiều ngang là sự đối xử như nhau đối với những người như nhau. Điều này có nghĩa là không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, màu da,.
mà có kết quả hoạt động kinh tế như nhau thì được đối xử như nhau. Công bằng theo chiều dọc là sự đối xử khác nhau đối với những người có những khác biệt bẩm sinh hoặc có các điều kiện xã hội khác nhau, tức là đối xử với người giàu khác với người nghèo. Thực chất ở đây là lấy bớt ở người “có của” chia cho những người “ít của” Để đảm bảo công bằng xã hội cần phải kết hợp công bằng theo chiều dọc với công bằng theo chiều ngang. Các nhà kinh tế thường đưa ra sáu lý do sau đây dẫn đến sự khác biệt bẩm sinh: - Khả năng và kỷ năng lao động khác nhau - Cường độ làm việc khác nhau - Sự khác nhau về nghề nghiệp - Sự khác nhau về giáo dục và đào tạo - Được hưởng thừa kế và chiếm hữu tài sản khác nhau - Sự gánh chịu rủi ro khác nhau.
Xã hội công bằng, đương nhiên không phải là một xã hội bình quân cào bằng và cũng không chỉ công bằng về lợi ích vật chất, lợi ích kinh tế trong phân phối, mà còn có sự công bằng về chính trị, về pháp luật, về tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, về tự do dân chủ và sự bình đẳng về cơ hội sản xuất, kinh doanh, được tự do hành nghề, mà ngành nghề đó không bị pháp luật ngăn cấm. Do vậy, một nội dung quan trọng của xã hội công bằng trước Luan van 13 hết là thiết lập một “sân chơi” bình đẳng cho tất cả các thành phần kinh tế, mọi thành viên xã hội được tự do đua tài trên thương trường theo pháp luật. Một vấn đề đáng lưu ý là, trong một xã hội sự bình đẳng, công bằng về chính trị, pháp luật, về hưởng thụ lợi ích kinh tế - văn hóa, về cơ hội làm ăn đối với mọi công dân, nhưng trong xã hội đó vẫn có một số người phải gánh chịu những rủi ro, những điều không may mắn như tật nguyền, cô đơn, cơ nhỡ., xã hội phải có chính sách nhân đạo đối với họ. Như vậy, mục đích của hoạt động bảo trợ xã hội nhằm rút ra kết luận thực chất của hoạt động bảo trợ xã hội là tiến hành phân phối lại thu nhập quốc dân để đảm bảo công bằng xã hội và tăng phúc lợi cho người nghèo.
Các lý thuyết Để đạt được những mục tiêu trong phát triển kinh tế, Chính phủ các nước sử dụng các phương thức phân phối khác nhau. Có hai cách phân phối thường được sử dụng, đó là phân phối theo chức năng và phân phối theo mức độ thu nhập. Phân phối theo chức năng dựa vào quyền sở hữu của các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất và vai trò của từng yếu tố. Phân phối theo mức độ thu nhập là một hình thức phân phối lại giữa những nhóm người có mức thu nhập giàu – nghèo khác nhau.
Nếu tăng trưởng nhằm mục tiêu nâng cao không ngừng đời sống nhân dân thì trong phân phối sẽ đánh giá cao vai trò của yếu tố lao động và do đó thực hiện phân phối theo lao động là chính, tạo điều kiện cho mọi người lao động có khả năng nâng cao thu nhập của mình. Nếu chính phủ nhắm mục tiêu ưu tiên cho lợi ích những người giàu có thì sẽ đánh giá cao vai trò của vốn và tài sản, do đó chính sách phân phối theo lao động bị hạn chế, thu nhập từ quyền sở hữu các nguồn vốn và tài sản là chủ yếu. Quá trình phân phối lại thường được thực hiện qua thuế, trợ cấp và chi tiêu công cộng của Chính phủ nhằm giảm bớt mức thu nhập của người giàu Luan van 14 nhằm nâng cao mức thu nhập của người nghèo. Nhưng đây không phải là hình thức cơ bản để nâng cao thu nhập của đại bộ phân nhân dân.
Để lý giải cho việc Nhà nước phải đứng ra phân phối lại thu nhập, các nhà kinh tế đưa ra các lý thuyết khác nhau [41]. - Thuyết vị lợi (thuyết phúc lợi xã hội), dựa trên các giả định sau: + Các cá nhân có hàm thỏa dụng đồng nhất phụ thuộc vào mức thu nhập của họ. + Các hàm thỏa dụng này biểu thị mức độ thỏa dụng biên theo thu nhập giảm dần.