Phần Mở đầu, 3 chương chính văn và phụ lục. Vật liệu mao quản trung bình 1. Giới thiệu vật liệu mao quản trung bình Trong nhiều thập kỉ qua, các nhà khoa học đã được chứng kiến những công trình lớn và sự phát triển nhanh chóng về tính chất của vật liệu vi mao quản, trong đó nổi bật nhất là vật liệu họ zeolite, trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, do kích thước mao quản nhỏ nên chúng còn có nhiều hạn chế [5]: • Các phân tử có kích thước lớn không khuếch tán được vào bên trong mao quản để tiếp xúc với các tâm hoạt động ở đó, do đó phần bề mặt bên trong không được sử dụng mà bề mặt ngoài chỉ chiếm khoảng 1% tổng diện tích bề mặt; • Không thể đưa các nhóm chức lớn lên thành mao quản nhằm tạo ra tính chất bề mặt mong muốn như quang học, xúc tác, hấp phụ… Vì vậy để tăng cường hơn nữa khả năng ứng dụng của vật liệu mao quản, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm tăng kích thước mao quản.1 trình bày sự phát triển của vật liệu mao quản theo thời gian.
Theo IUPAC, vật liệu vô cơ rắn chứa các mao quản có đường kính trong khoảng 2 - 50 nm được gọi là vật liệu mao quản trung bình (MQTB) [12]. Vi mao quản Mao quản trung bình Mao quản lớn Năm 1960: zeolite Năm 1990: M41S, Vật liệu xốp (ZSM5, Y) SBA Hình 1. Phân loại vật liệu mao quản theo IUPAC 4 Những nghiên cứu đầu tiên là thay đổi cấu trúc vi mao quản thành mao quản trung bình. Ví dụ như phương pháp dựng khung (Hình 1.2): quá trình dựng khung của bentonite, vật liệu này được trao đổi cation Na+ bằng cation Ca2+ có kích thước lớn hơn; do đó khi thay thế nó sẽ làm tăng khoảng cách giữa các lớp của vật liệu, tuy nhiên phương pháp này thực hiện rất khó khăn và đạt được thành công hạn chế.
Sơ đồ phương pháp dựng khung từ khoáng bentonite Cho đến những năm 1991-1992, các nhà khoa học hãng Mobil đã phát minh ra phương pháp tổng hợp trực tiếp vật liệu MQTB đầu tiên, ký hiệu là M41S [12]. Họ vật liệu này có kích thước mao quản đồng đều và đường kính mao quản dao động trong khoảng 20 – 100 Å. Tùy theo điều kiện tổng hợp như: bản chất của chất hoạt động bề mặt, bản chất của chất phản ứng, nhiệt độ tổng hợp, giá trị pH,. mà kích thước và cấu trúc mao quản được hình thành khác nhau như cấu trúc lục lăng (MCM-41), cấu trúc lập phương (MCM-48), cấu trúc lớp (MCM-50).
Năm 1998, Zhao và các cộng sự đã cho ra đời họ vật liệu MQTB mới ký hiệu là SBA (Santa Barbara Amorphous) [27], [28]. Những vật liệu này có độ trật tự cao, kích thước mao quản lớn, có thể lên tới 500 Å. Cấu trúc của SBA phụ thuộc chủ yếu vào 5 loại chất hoạt động bề mặt (HĐBM) được sử dụng và cho đến nay, họ SBA đã có 16 thành viên từ SBA-1 đến SBA-16 (Bảng 1. Một số loại SBA được tổng hợp từ các chất HĐBM khác nhau Loại vật Cấu trúc Chất HĐBM liệu SBA-1 Lập phương (Pm3n) C 16 TEABr Lục lăng - 3D SBA-2 [CH 3 (CH 2 ) 15 N(CH 3 ) 2 (CH 2 ) 3 N(CH 3 ) 3 ]Br 2 (P6 3 /mmc) SBA-11 Lập phương (Pm3m) C 16 EO 10 SBA-14 Lập phương - 2D C 12 EO 4 SBA-15 Lục lăng - 2D (P6mm) EO 20 PO 70 EO 20 SBA-16 Lập phương EO 106 PO 70 EO 106 Trong họ SBA, SBA-15 thu hút được sự quan tâm đặc biệt và được nghiên cứu rộng rãi do có kích thước mao quản lớn, thành mao quản dày, độ bền nhiệt và thuỷ nhiệt cao hơn các nguyên liệu trước, đây là những tính chất quan trọng để ứng dụng làm xúc tác để chuyển hoá các phân tử lớn dưới điều kiện khắc nghiệt trong công nghệ lọc hoá dầu.
Chi tiết về vật liệu này sẽ được chúng tôi đưa ra trong phần sau. Phân loại vật liệu mao quản trung bình Phân loại theo cấu trúc (Hình 1.3): • Cấu trúc lục lăng (hexagonal), ví dụ: MCM-41, SBA-15. • Cấu trúc lập phương (cubic), ví dụ: MCM-48, SBA-16. • Cấu trúc lớp (laminar), ví dụ: MCM-50.
Phân loại theo chất hình thành nên mạng lưới mao quản: • Vật liệu MQTB chứa silic: MCM, SBA và các vật liệu thay thế một phần Si mạng lưới bằng các nguyên tố khác như Ti, Al, Ru,. • Vật liệu MQTB không chứa Si: ZrO 2 , TiO 2. 3 loại cấu trúc thường gặp của vật liệu MQTB 1. Sơ lược về chất tạo cấu trúc Tạo cấu trúc là quá trình các oxit (ví dụ SiO 2 ) tổ chức thành mạng lưới tinh thể xung quanh các cấu trúc trung tâm tạo ra bởi các chất hữu cơ.
Trong trường hợp đơn giản nhất là vật liệu mao quản có cấu trúc tương tự như dạng hình học của phân tử hữu cơ (thường là các muối amin phân tử lượng thấp dùng trong tổng hợp zeolite, ví dụ TPABr để tổng hợp ZSM-5). Trường hợp khác là các phân tử hữu cơ tổ hợp thành các cấu trúc khác nhau (các phân tử hữu cơ này là các chất hoạt động bề mặt có phân tử lượng lớn hình thành nên vật liệu mao quản trung bình) [12], [21]. Hai trường hợp này được minh họa trên Hình 1. Sự hình thành nên mạng lưới vi mao quản sử dụng tác nhân tạo cấu trúc amin bậc bốn có chuỗi alkyl ngắn (a) và sự hình thành mạng lưới vật liệu MQTB sử dụng chất tạo cấu trúc có chuỗi alkyl dài (b).
7 Để đáp ứng vai trò tạo khung, chất tạo cấu trúc phải có một đầu ưa nước và một đầu kị nước vì đa phần các phản ứng tổng hợp vật liệu mao quản trung bình thường tiến hành trong dung môi phân cực là nước (Hình 1. Hình mẫu của một chất tạo cấu trúc 1. Vai trò của chất tạo cấu trúc Chất tạo cấu trúc giữ vai trò phức tạp: • Tổ chức mạng lưới thông qua việc lấp đầy các lỗ xốp, làm cân bằng điện tích; • Tạo nên hình thái cấu trúc cho các kênh mao quản thông qua hình dạng, kích thước, tính chất của chúng, đây là đặc tính quan trọng và cần thiết của chất tạo cấu trúc; • Làm giảm thế hoá học của mạng lưới hình thành nhờ tạo nên các tương tác với các chất vô cơ (liên kết hydro, tương tác tĩnh điện…). Chất tạo cấu trúc trong tổng hợp vật liệu MQTB là các chất hoạt động bề mặt (có một đầu phân cực ưa nước và một đuôi hydrocacbon dài kị nước), chất tạo cấu trúc cần phải thoả mãn các điều kiện sau: • Có khả năng hoà tan tốt trong dung dịch; • Bền dưới các điều kiện tổng hợp; • Có khả năng làm bền mạng lưới mao quản được hình thành; • Tách khỏi vật liệu mà không phá huỷ khung.
Phân loại chất tạo cấu trúc Chất tạo cấu trúc rất đa dạng và được phân loại theo phần tích điện của chúng [12] (Hình 1.6): • Loại cation: thường là các muối amin, ví dụ CTABr (C 16 H 33 (CH 3 ) 3 N+Br-) (Hình 1. 8 • Loại anion: các hợp chất hữu cơ chứa nhóm -SO 3 -, ví dụ muối natri lauryl sunfat (C 12 H 25 OSO 3 -Na+) (Hình 1. • Loại không ion: các alkylpoly(etylen oxyt), ví dụ C 16 H 33 (CH 2 CH 2 O) 20 , hay các copolyme (polyme khối) chứa các chuỗi polyetylen oxyt và polypropylen oxyt như P 123 (m = 20, n=70) (Hình 1. Phân loại chất tạo cấu trúc theo điện tích Trong đó loại chất tạo cấu trúc copolyme không ion thu hút được nhiều sự chú ý hơn cả.
Đây là loại polime mới có tiềm năng ứng dụng cao do giá thành thấp hơn so với các loại khác, khả năng phân hủy sinh học cao và có khả năng tổng hợp vật liệu ngay cả trong môi trường axit hoặc bazơ mạnh và không độc hại. Ngoài ra, khi sử dụng loại copolyme loại này có người ta có thể điều chỉnh được năng lượng hình thành và cấu trúc vật liệu, tổng hợp được vật liệu có thành dày hơn so với cấu trúc cation thông thường, ví dụ vật liệu SBA-15 tổng hợp với việc sử dụng P 123 thường có thành mao quản dày hơn so với vật liệu MCM-41 dùng chất tạo cấu trúc là CTABr [28]. Cơ chế hình thành vật liệu mao quản trung bình Để tổng hợp vật liệu MQTB cần 3 hợp phần cơ bản sau: • Chất hoạt động bề mặt (HĐBM): đóng vai trò làm tác nhân định hướng cấu trúc; • Nguồn vô cơ: hình thành nên mạng lưới mao quản; • Dung môi (nước cùng với axit hoặc bazơ): thường đóng vai trò chất xúc tác trong quá trình kết tinh. Sơ đồ tổng hợp hình thành vật liệu MQTB Để tổng hợp được vật liệu có tính chất mong muốn thì cần biết được cơ chế của quá trình.
Tuy nhiên, cho đến nay cơ chế hình thành vật liệu MQTB nói chung và SBA-15 nói riêng chưa được sáng tỏ và vẫn là vấn đề thách thức đối với các nhà khoa học. Đã có rất nhiều cơ chế được đưa ra như cơ chế định hướng theo cấu trúc tinh thể lỏng, cơ chế phối hợp tạo cấu trúc. Các cơ chế này có một điểm chung là đều khẳng định sự tương tác giữa chất hoạt động bề mặt với tiền chất vô cơ trong dung dịch. Dưới đây chúng tôi trình bày một số cơ chế được đề nghị [5], [12], [21]: Hình 1.
Cơ chế hình thành vật liệu mao quản trung bình 10 • Cơ chế định hướng theo cấu trúc tinh thể lỏng (Liquid Crystal Templating - LCT) (quy trình A – Hình 1.8): Theo cơ chế này, các chất HĐBM ban đầu có dạng mixen ống, thành ống là các đầu ưa nước và đuôi kỵ nước hướng vào trong. Các mixen ống này đóng vai trò làm tác nhân tạo cấu trúc và sắp xếp thành cấu trúc tinh thể lỏng. Sau khi thêm nguồn silic vào dung dịch, các ion chứa silic tương tác với phần phân cực của chất HĐBM tạo ra lớp silicat xung quanh mixen ống, quá trình polyme hoá tạo nên vật liệu oxit silic MQTB. • Cơ chế phối hợp tạo cấu trúc (quy trình B1- Hình 1.8): Trong một số trường hợp, nồng độ chất HĐBM có thể thấp hơn nồng độ cần thiết để tạo ra cấu trúc tinh thể lỏng hay thậm chí là dạng mixen.
Theo cơ chế này, trước khi thêm nguồn silic vào các phân tử chất HĐBM nằm ở trạng thái cân bằng động giữa mixen ống, mixen cầu và các phân tử chất HĐBM riêng rẽ. Khi thêm nguồn silic, các ion silicat tương tác với đầu phân cực của chất HĐBM và tự sắp xếp tạo thành pha silic. • Cơ chế phù hợp mật độ điện tích (quy trình B2 - Hình 1.