Chương 1 tổng hợp cơ sở lý thuyết về văn hoá doanh nghiệp như khái niệm, các cấp độ và tác động của văn hoá doanh nghiệp, các loại hình văn hoá doanh nghiệp và một số mô hình đo lường văn hoá doanh nghiệp.1 Một số khái niệm cơ bản về Văn hoá doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Văn hoá doanh nghiệp Hiện nay, chưa có định nghĩa thống nhất về VHDN. Theo đó, khái niệm VHDN là định nghĩa được suy rộng ra từ định nghĩa văn hóa. (2014) đã chỉ ra: Văn hóa là một một phạm trù rất rộng, phản ánh mọi mặt của đời sống con người. Văn hóa vừa là sản phẩm sáng tạo của loài người, vừa là giá trị tạo nên cuộc sống của con người và sự tiến bộ của nhân loại.
Biểu hiện của văn hóa trong cuộc sống rất phong phú. (2016): Văn hóa có thể nhận ra và phân biệt thông qua những dấu hiệu điển hình, đặc điểm bản sắc đặc trưng về lịch sử, địa lý, tôn giáo, truyền thống phong tục nghi lễ, biểu tượng, linh vật, truyền thuyết, huyền thoại, sự tích, nhân vật anh hùng, ngôn ngữ, chữ viết, văn hóa phẩm, ấn phẩm lưu truyền. Văn hóa là một vấn đề rất đa dạng và phức tạp, do đó sẽ có nhiều cách tiếp cận khác nhau dẫn đến nhiều quan niệm khác nhau, điều này làm cho sự hiểu biết về vấn đề một cách phong phú và toàn diện hơn. Trong nghiên cứu của Molenaar, K.
(2002) đã chỉ ra, hiện nay, có rất nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về VHDN. Có thể kể tới một số định nghĩa trong các nghiên cứu tiêu biểu như: Theo Deal và Kennedy (1988): VHDN đơn giản là cách thức mà doanh nghiệp triển khai hoạt động kinh doanh của mình. VHDN là chất keo kết dính toàn bộ tổ chức lại với nhau bằng cách cung cấp sự cố kết và liên kết mạch lạc giữa từng bộ phận nhỏ của doanh nghiệp. 12 Theo Dương Thị Liễu (2008): VHDN là toàn bộ những nhân tố văn hóa được doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó.
Theo Ravasi & Schultz (2006) khi đưa ra định nghĩa về VHDN, ngoài việc đề cập đến các yếu tố văn hóa vô hình, còn đề cập đến các yếu tố hữu hình của VHDN như các biểu tượng, lễ nghi, sự kiện, các vật thể, kiến trúc, cơ sở vật chất, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp. Chính những yếu tố văn hóa hữu hình sẽ giúp các thành viên trong doanh nghiệp, đặc biệt là các thành viên mới hiểu và thấm nhuần các yếu tố VHDN vô hình (niềm tin, giá trị, …) một cách nhanh chóng hơn. Điểm chung của các khái niệm trên là xem VHDN là toàn bộ các giá trị được xây dựng trong suốt quá trình tồn tại của doanh nghiệp, có tác động sâu sắc tới động cơ hành động của doanh nghiệp, chi phối tình cảm, thái độ, suy nghĩ và hành vi ứng xử của các thành viên trong doanh nghiệp, tạo thành định hướng có tính chất chiến lược và nét khác biệt mang tính truyền thống riêng cho bản thân doanh nghiệp. VHDN có vai trò là một lực lượng hướng dẫn, là ý chí thống nhất của tất cả lãnh đạo và cán bộ nhân viên của doanh nghiệp.
Như vậy, với phạm vi nghiên cứu của luận văn có thể hiểu khái niệm về VHDN theo cách diễn đạt trong nghiên cứu của Schein, E. (2010): “VHDN là tất cả những giá trị vật thể và phi vật thể được doanh nghiệp lựa chọn, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong quá trình hoạt động kinh doanh, tạo nên nét đặc trưng của doanh nghiệp đó”. VHDN do chính các thành viên doanh nghiệp tạo ra trong quá trình hoạt động kinh doanh và trong mối quan hệ với môi trường xã hội, tự nhiên của mình; nó tồn tại trong suốt quá trình phát triển của doanh nghiệp, có thể thay đổi theo thời gian nhưng luôn thể hiện được bản sắc riêng của doanh nghiệp.2 Các cấp độ Văn hoá doanh nghiệp Theo Kotter, J. (2010), VHDN có thể chia thành ba cấp độ khác nhau.
- Cấp độ thứ nhất: Những quá trình và cấu trúc hữu hình 13 Trong cấp độ thứ nhất này, Schein, E. (2010) chỉ ra những sự vật, hiện tượng mà một người có thể dễ dàng nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận được khi lần đầu tiếp xúc với doanh nghiệp. Cấp độ này bao gồm những yếu tố như kiến trúc, ngôn ngữ, kỹ thuật công nghệ và sản phẩm, các nghi lễ, những giai thoại và câu chuyện về tổ chức hay phong cách của tổ chức thể hiện qua trang phục, văn hóa ứng xử…Ngoài ra, cấp độ này cũng bao gồm cả hành vi của các thành viên, các quy trình của tổ chức, các điều lệ, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp… Đặc điểm quan trọng của những yếu tố này là dễ nhận thấy nhưng khó nhận biết giá trị, ý nghĩa đích thực bên trong và không thể chỉ dựa vào những yếu tố hữu hình này mà có thể kết luận một cách chính xác về VHDN của một tổ chức. Tuy vậy, những giá trị này có thể tạo cho người tiếp xúc những nhận xét đánh giá ban đầu, vì thế các doanh nghiệp cũng rất cần quan tâm đến những yếu tố hữu hình trên trong tiến trình xây dựng VHDN cho mình.
Những quá trình và cấu trúc hữu hình bao gồm những yếu tố sau: Kiến trúc của Doanh nghiệp; Nghi lễ, nghi thức; Biểu tượng; Mẩu chuyện, giai thoại, tấm gương điển hình; Ngôn ngữ, khẩu hiệu và Ấn phẩm điển hình. - Cấp độ thứ hai: Những giá trị được tuyên bố Trong cấp độ thứ hai, Schein, E. (2010) chỉ ra rằng: Doanh nghiệp nào cũng có những quy định, nguyên tắc, triết lý, chiến lược và mục tiêu riêng, là kim chỉ nam cho hoạt động của toàn bộ nhân viên và thường được doanh nghiệp công bố rộng rãi ra công chúng. Đây cũng chính là những giá trị được tuyên bố, một bộ phận của VHDN.
(2008) cũng từng tuyên bố, những giá trị được tuyên bố cũng có tính hữu hình vì người ta có thể nhận biết và diễn đạt chúng một cách rõ ràng, chính xác. Chúng thực hiện chức năng hướng dẫn cho các thành viên trong doanh nghiệp cách thức đối phó với một số tình thế cơ bản và rèn luyện cách ứng xử cho các thành viên mới trong môi trường doanh nghiệp. - Cấp độ thứ ba: Những quan niệm chung Trong cấp độ thứ ba, Schein, E. (2010) chỉ ra những quan niệm chung là những niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm có tính vô thức, được mặc nhiên 14 công nhận trong doanh nghiệp.
Trong bất cứ cấp độ văn hóa nào (văn hóa dân tộc, VHDN…) cũng đều có các quan niệm chung, được hình thành và tồn tại trong thời gian dài, chúng ăn sâu vào tâm lý của hầu hết các thành viên trong nền văn hóa đó và trở thành điều mặc nhiên được công nhận. Để hình thành được các quan niệm chung, một cộng đồng văn hóa phải trải qua quá trình hoạt động lâu dài, va chạm và xử lý nhiều tình huống thực tiễn. Chính vì vậy, một khi đã hình thành, các quan niệm chung sẽ rất khó bị thay đổi. Khi một doanh nghiệp đã hình thành những quan niệm chung, tức là các thành viên cùng nhau chia sẻ và hành động theo đúng quan điểm chung đó, họ sẽ rất khó chấp nhận những hành vi đi ngược lại.
Đặc điểm của những quan niệm chung là rất khó thay đổi, bởi vì nó đã là một phần trong tính cách, lối sống của cả một tập thể. Thay đổi VHDN bằng cách thay đổi các quan niệm chung là việc rất khó khăn, gây tâm lý hoang mang, bất an cho nhân viên. Những quan niệm chung trong doanh nghiệp có thể chỉ ra: - Giá trị, thái độ: Giá trị là khái niệm phản ánh nhận thức của con người về những chuẩn mực đạo đức mà họ cho rằng cần phải thực hiện. Thái độ là chất gắn kết niềm tin và chuẩn mực đạo đức thông qua tình cảm.
Thái độ được định nghĩa là một thói quen tư duy theo kinh nghiệm để phản ánh theo một cách thức nhất quán mong muốn hay không mong muốn đối với sự vật hiện tượng. - Niềm tin: Niềm tin là khái niệm đề cập đến việc mọi người cho rằng thế nào là đúng, thế nào là sai. Trong niềm tin luôn chứa đựng những giá trị và triết lý đã nhận thức, nhưng mức độ nhận thức phát triển ở cấp độ cao hơn. Niềm tin có thể tạo sức mạnh giúp con người hành động, niềm tin là giá trị được hình thành một cách vững chắc về một cách thức hành động hay trạng thái nhất định.
- Lý tưởng: lý tưởng là khái niệm thể hiện niềm tin phát triển ở mức độ rất cao. Phát triển đến mức độ này, trạng thái tình cảm của con người không chỉ là sự tự giác và lòng nhiệt tình, mà hơn thế nữa còn là sự sẵn sàng hi sinh và công hiến.3 Tác động của Văn hoá doanh nghiệp tới sự phát triển của doanh nghiệp - Tác động tích cực: VHDN có những ảnh hưởng tích cực rất lớn đến sự phát triển của doanh nghiệp: Tác động đến đội ngũ nhân viên: Đầu tiên, khi nói tới tác động của VHDN đế tổ chức phải đánh giá tới khía cạnh là đội ngũ nhân viên trong doanh nghiệp. Một hệ thống VHDN bài bản, chuyên nghiệp, đồng bộ hóa các hoạt động của nhân viên sẽ đem tới những lợi ích nổi bật như: Giảm thiểu tối đa những yêu cầu về quản lý, thực hiện các nguyên tắc, quy định trong công ty. VHDN đề cao tính chủ động, tự giác của nhân viên, từng cá nhân nắm rõ vai trò của mình với tổ chức, hiểu được giá trị công ty và tự giác tuân theo quy định công ty đề ra; VHDN tác động trực tiếp đến năng suất làm việc của nhân viên.
Môi trường công ty có văn hóa tốt sẽ thúc đẩy tinh thần sáng tạo, phát huy ý tưởng độc đáo cho công việc hơn; Nâng cao chất lượng tuyển dụng nhân sự. Thu hút nhiều ứng viên tiềm năng làm việc cho tổ chức và giữ chân họ gắn bó với doanh nghiệp lâu dài hơn bởi họ thấy được tôn trọng, hào hứng khi làm việc trong một môi trường cởi mở.