CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress và stress ở CN 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress trên thế giới Khi con người xuất hiện thì lúc đó stress cũng đã tồn tại trong cuộc sống của con người, tuy nhiên người ta chưa nhận thức rõ ràng về những hiện tượng mà sau này được nhiều nhà khoa học gọi là stress mà chỉ nghiên cứu nhiều khía cạnh của stress dưới những thuật ngữ khác nhau và chưa mang tính hệ thống. Stress thật sự được quan tâm nghiên cứu một cách khoa học bắt đầu từ thế kỉ 17 bởi Hooke với thuyết “Engineering Analogy” ( tương đồng cấu trúc) trong lĩnh vực kiến trúc xây dựng. Hooke đã đưa ra các thuật ngữ “load” khối nặng đè lên cấu trúc, “stress “ phần bị khối nặng đè lên và “strain” sự thay đổi hình dạng do tương tác giữa khối nặng và stress. Những khái niệm này có nhiều nét tương đồng với những khái niệm liên quan đến stress tâm sinh lý về sau này : stress là những yêu cầu bên ngoài đặt lên hệ tâm sinh lý xã hội [45,tr1] Sau đó, stress được nhiều nhà sinh lý học quan tâm nghiên cứu: Ảnh hưởng sinh học của sự sợ hãi được Luis Juan Vives miêu tả từ nhiều thế kỷ trước.
Cơ sở cho hiểu biết của chúng ta về khái niệm stress đã được nghiên cứu hơn một thế kỷ trước đây bởi nhà khoa học người Pháp Claude Bernard. Ông là người đầu tiên nhận ra làm thế nào cơ thể nỗ lực để duy trì một trạng thái tương đối cố định bên trong cơ thể trong một môi trường luôn thay đổi (Bernard, 1878) Năm 1911, Walter Bradford, một sinh học gia Hoa Kỳ đã nhận thấy kích thích tố nang thượng thận gia tăng khi cơ thể bị xúc động mạnh [64], những phát hiện này làm tiền đề cho những nghiên cứu về mối liên hệ giữa stress và sức khỏe sau này. Walter Cannon (1927) là nhà nghiên cứu đầu tiên mô tả một cách khái quát một phản ứng đối với sự đe dọa mà ông gọi là phản ứng “chống hoặc chạy” (fight or flight), mỗi khi các loài vật đối mặt với kẻ săn mồi, chúng phải quyết định chống cự hay chạy trốn. Trong cả hai tình huống này, nhịp tim và huyết áp tăng cao, tăng nhịp thở, tăng hoạt động cơ bắp.
Thị lực và thính lực hoạt động mạnh hơn để đạt được hiểu qua tốt hơn. Theo ông, đây là một phản ứng được “cài đặt sẵn” về mặt sinh học, cho phép mỗi sinh vật có thể ứng phó với những tác nhân gây đe dọa từ môi trường bên ngoài [10], [84]. Kết quả nghiên cứu của Cannon được vận dụng trong những nghiên cứu về những chiến lược ứng phó stress của con người sau này, hoặc là đối diện để giải quyết tác nhân gây stress hoặc là né tránh chúng. Hans Hugo Bruno Selye, là người đã phổ biến từ ngữ stress trong công chúng khi ông phát hành cuốn “The Stress of Life” vào năm 1956, và cũng là một người nghiên cứu rất nhiều về stress để rồi những quan điểm của ông trở thành những luận điểm cơ bản, nền móng cho những nghiên cứu khoa học về stress.
Ông cho rằng bất cứ sự kiện nào đòi hỏi sự thích ứng đều làm khởi phát các đáp ứng sinh lý đặc trưng cho stress, những đáp ứng này cũng có tính không đặc hiệu; các loại sự kiện gây stress khác nhau đều dẫn đến những biến đổi tương tự nhau. Và gọi quá trình đáp ứng này là “hội chứng thích nghi chung” (General Adaptation Syndrome - GAS) [64]. GAS ngụ ý chỉ những hoạt động thần kinh và nội tiết cho phép cơ thể sinh vật chống lại những kích thích sinh lý có hại. GAS được chia làm ba giai đoạn: báo động , kháng cự và kiệt quệ (exhaustion)[15],[84].
Mô hình GAS mặc dù có hạn chế là chỉ mới đề cập đến yếu tố sinh lý, chưa đề cập đến yếu tố tâm lý những nó được xem là cơ sở hiểu biết của chúng ta về stress. Selye còn tiếp tục những nghiên cứu của ông về stress với hàng trăm trang luận cứ khoa học và 39 cuốn sách. [8], [52] Một điểm giống nhau trong lý thuyết của Selye và Cannon là sự xuất hiện các đáp ứng “chống hoặc chạy” và GAS tùy thuộc vào sự nhận biết của sinh vật về các kích thích có hại và việc diễn giải các kích thích này là có tính đe dọa hoặc có hại cho chúng hay không. Bổ sung thêm vào luận điểm này Syrington, Currie, Curran, Davidson, (1955) và Mason (1975) đã thừa nhận: “khi các kích thích có hại xảy đến mà không có sự nhận biết của đương sự, các đáp ứng sinh học sẽ không xảy ra”.
Đồng thời sự xuất hiện phản ứng “chống hoặc chạy” và GAS phụ thuộc vào khả năng tiên đoán và kiểm soát các sự kiện có hại. Đồng quan niệm với luận điểm này, một loạt nghiên cứu của Weiss (1968,1971) trên chuột cũng đã cho thấy tầm quan trọng của những khả năng tiên đoán và kiểm soát đối với những sự kiện đe dọa, và mối quan hệ giữa nó với bệnh loét dạ dày. Những phát hiện của Weiss cho thấy một sự kiện đe dọa sẽ ít gây ra những hậu quả tai hại nếu chúng ta biết được khi nào nó sẽ xảy ra, nếu chúng ta có thể làm được một việc gì đó trước sự kiện ấy, và nếu chúng ta nhận được những phản hồi về hiệu quả của hành động ấy. Tầm quan trọng của khả năng tiên đoán và kiểm soát cũng được thấy trong các đáp ứng của con người đối với những tác nhân gây stress (Rodin, 1980) [84] Nhiều người nghiên cứu cho rằng những nghiên cứu dựa trên quan điểm stress là một đáp ứng sinh lý có tính không đặc hiệu - các loại sự kiện gây stress khác nhau đều dẫn đến những biến đổi tương tự nhau là quan điểm đúng nhưng chưa thật đầy đủ.
Vì vậy họ nghiên cứu stress theo quan điểm stress như một sự kiện từ môi trường - tất cả các sự thay đổi tích cực hoặc tiêu cực từ môi trường, cuộc sống đều có tính chất gây stress và mỗi một sự kiện nhất định đều có tính chất gây stress như nhau với tất cả mọi người. Các nghiên cứu thực hiện theo quan điểm môi trường đều có bản chất dịch tễ học: số lượng và mức độ của các sự kiện gây stress sẽ có tính tiên lượng cho tình trạng sức khỏe của đương sự. Tuy nhiên, sau này quan điểm stress như một sự kiên từ môi trường được đánh giá là cũng có hạn chế trong việc giải thích tại sao lại có những sự kiện gây stress cho người này nhưng không gây stress cho người khác. Vào những năm 1970 và 1980, nhiều nhà nghiên cứu đã công bố các chương trình nghiên cứu thực nghiệm nhằm tìm ra mối liên hệ giữa thay đổi cuộc sống và đau ốm.
Điển hình cho những cuộc nghiên cứu này là cuộc nghiên cứu của Thomas Holmes và Richard Rahe (1967), họ đã thiết kế một thang đo mức độ stress đi kèm với các sự kiện thường gắn với cuộc sống hằng ngày gọi là thang đo sự kiện cuộc sống (SRE: schedule of recent events - gồm 43 sự kiện cuộc sống) để tìm ra những tình huống nào trong cuộc sống có khả năng gây stress nhiều nhất [31, tr 243]. Ngoài ra cuộc nghiên cứu này cũng đưa ra kết luận càng tích lũy nhiều khủng hỏang trong cuộc sống thì con người càng dễ bị đau ốm trong khỏang thời gian nào đó [31, tr 247], [84] Việc ra đời của SRE được xem là một đóng góp rất có giá trị trong việc nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan đến stress. Sau này, nhiều nhà nghiên cứu khác đã ứng dụng thang đo sự kiện cuộc sống vào những nghiên cứu của mình như Patrich và Holmes (1987) nghiên cứu tương quan giữa những sự kiện cuộc sống với thời gian mắc các bệnh mãn tính, A.L Beautrais và cộng sự (1982) lọc ra 20 trong 43 items trong thang đo nói trên để nghiên cứu dọc trên 1082 trẻ em theo dõi từ mới đẻ đến 4 tuổi, kết quả cho thấy gia đình nào có 12 biến cố trở lên thì số lần trẻ em của gia đình đó phải vào viện gấp 6 lần so với nhóm gia đình chỉ có 3 biến cố và các bệnh thường gặp là viêm phổi, tiêu chảy, tai nạn, bỏng, ngộ độc.A Williamson (1989) dùng thang đo trên để theo dõi 513 phụ nữ mang thai để nghiên cứu liên quan giữa biến cố cuộc sống với các biến cố lúc chưa sinh. Một hướng nghiên cứu khác về stress là nghiên cứu mặt tích cực của stress : những người này cho rằng, stress không thể thiếu trong cuộc sống mà “thiếu stress” vì thế cũng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực (Frankenhaeuser, 1978), Những người được bảo vệ tránh stress quá mức có lẽ có nguy cơ cao bởi vì họ không thể phát triển được những kỹ năng ứng phó cần thiết trong đời sống hằng ngày (Murphy, 1979).
Stress có thể dẫn đến những hệ quả tích cực. Giải quyết thành công những đe dọa và thách thức sẽ đưa đến những cảm xúc tích cực, tạo nên những cảm giác về tính hữu dụng của bản thân và sức khỏe thể chất [84] Nhìn chung, hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về stress, có những nghiên cứu thuần túy lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm, thực tiễn trên một đối tượng nhất định hoặc kết hợp cả hai trên nhiều lĩnh vực riêng lẻ y học, sinh học, tâm lý học, xã hội học hoặc những nghiên cứu liên ngành. Những kết quả nghiên cứu đó giúp cho con người hiểu biết thêm về stress và có cách ngăn chặn những tác động của nó khi mà xã hội hiện nay stress đang ngày càng trở nên phổ biến. Riêng đối với lĩnh vực tâm lý học, tác giả L.Kitaepxmưx (1983) đã thống kê các sách báo khoa học nghiên cứu stress bằng tiếng Anh và Đức từ năm 1976-1980 có trên 1000 tài liệu được công bố [27, tr12] , cho đến nay thì con số đó đã tăng lên đáng kể, điển hình là chỉ bằng thao tác tìm kiếm trên công cụ Google với từ chính xác “psychology of stress” thì có 6.018 kết quả, với cụm từ “ psychology studies on stress “ thì có 1.180 kết quả , đó là chưa kể đến những nghiên cứu không đưa lên internet và những ngôn ngữ khác…điều này cho thấy tâm lý học hiện nay đã quan tâm nghiên cứu rất nhiều về stress, và nhiều trường đại học trên thế giới đã nghiên cứu và đưa stress vào nội dung giảng dạy cho sinh viên, có thể khái quát những xu hướng nghiên cứu sau: -Nghiên cứu nội hàm của khái niệm stress dưới góc độ tâm lý học : Gatchel & Baum (1983) R.