ĐẶT VẤN ĐỀ Hệ thực vật của Việt Nam hiện nay rất phong phú và đa dạng, có vai trò quan trọng đối với tự nhiên của con ngƣời. Ngoài ý nghĩa mang lại sự sống cho Trái Đất, nó còn góp phần vào việc mang lại giá trị kinh tế cho con ngƣời. Việt Nam là nƣớc có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiều loại địa hình nên có nguồn động thực vật đa dạng. Vậy nên nguồn thực vật có hoạt tính sinh học cũng rất dồi dào và phong phú.
Ngay từ xa xƣa, ông cha ta đã sử dụng nguồn tài nguyên thực vật này tạo ra các sản phẩm hữu ích mang lại nguồn lợi về kinh tế cho con ngƣời. Cùng với đó, ngành du lịch đã và đang phát triển nhanh chóng nhƣ một trào lƣu tại nhiều quốc gia trên Thế giới.Ngoài ý nghĩa mang lại những nguồn lợi kinh tế cho quốc gia cũng nhƣ cho ngƣời dân các địa phƣơng, nhất là ngƣời dân ở các vùng sâu, vùng xa thì du lịch còn góp phần vào việc bảo vệ môi trƣờng sinh thái , bảo vệ đa dạng sinh học thông qua quá trình làm giảm sức ép khai thác nguồn lợi tự nhiên phục vụ nhu cầu của khách du lịch, của ngƣời dân địa phƣơng khi tham gia vào các hoạt động du lịch. Vƣờn quốc gia Ba Vì với tổng diện tích tự nhiên là 9.704,35 ha ha thành lập năm 1991 đƣợc đánh giá là VQG có giá trị về nhiều mặt kinh tế, xã hội, văn hóa. Với một hệ thực vật vô cùng phong phú tại nơi đây, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu vai trò của thực vật bản địa đối với các cộng đồng dân tộc trong cung cấp dịch vụ du lịch tại Xã Ba Vì, Huyện Ba Vì, Thành Phố Hà Nội ” với mong muốn tìm hiểu các vai trò của thực vật tại nơi đây đối với cộng đồng dân tộc mà họ mang đến cho du lịch.
1 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về thực vật Nằm ở vùng Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km2, Việt Nam là một trong 16 nƣớc có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2002- Chiến lƣợc quốc gia quản lý hệ thống khu bảo tồn của Việt Nam (2002-2010). Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu. của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật.
Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và In đo-Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Nhiều hệ sinh thái và môi trƣờng sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dƣới loài đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tƣơng lai gần.
Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nƣớc. Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết nhƣ quan hệ giũa bảo tồn và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH v. - Khái niệm về thực vật: “ Thực vật là những sinh vật có khả năng tạo cho mình chất dinh dƣỡng từ những hợp chất vô cơ đơn giản và xây dựng thành những phần tử phức tạp nhờ quá trình quang hợp, diễn ra trong lục lạp của thực vật” (theo Aristotle). 2 - Khái niệm về thực vật bản địa: “ Thực vật bản địa là thuật ngữ dùng để miêu tả các loài thực vật đặc hữu hay phát triển tự nhiên ở một khu vực nhất định trong một khoảng thời gian địa chất ” (theo Tallamy, Douglas 2007).
Khái niệm này cũng bao gồm các loài thực vật đã từng phát triển, xuất hiện một cách tự nhiên hoặc đã tồn tại trong nhiều năm tại một khu vực (nhƣ cây, hoa, cỏ, và các loài thực vật khác). Ở Bắc Mỹ, một loài thực vật thƣờng đƣợc coi là bản địa nếu nó từng xuất hiện trƣớc thời kỳ thuộc địa hóa. Một số loài thực vật bản địa đã thích nghi đối với các môi trƣờng không bình thƣờng, trong phạm vi nhỏ hoặc các điều kiện khí hậu rất khắc nghiệt hay các điều kiện đất hiếm gặp. Mặc dù cũng có một số kiểu thực vật vì những lý do trên nên nó chỉ tồn tại trong một dải phân bố rất hẹp (đặc hữu), những loài các có thể sống trong các khu vực đa dạng hơn hoặc thích nghi với những điều kiện xung quanh khác nhau.
- Khái niệm về dịch vụ du lịch: Du lịch đã trở thành một hiện tƣợng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nƣớc phát triển mà còn ở các nƣớc đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, không chỉ ở nƣớc ta, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chƣa thống nhất.Do hoàn cảnh khác nhau, dƣới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi ngƣời có một cách hiểu về du lịch khác nhau. Do vậy có bao nhiêu tác giả nghiên cứu về du lịch thì có bấy nhiêu định nghĩa. Dƣới con mắt của Guer Freuler thì “du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tƣợng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trƣởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trƣờng xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên” Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tƣợng di chuyển của cƣ dân mà phải là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó.
Chúng ta cũng thấy ý tƣởng này trong quan điểm của Hienziker và Kraff “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tƣợng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lƣu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thƣờng xuyên của 3 họ” (về sau định nghĩa này đƣợc hiệp hội các chuyên gia khoa học về du lịch thừa nhận) Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tƣợng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế. Nhà kinh tế học Picara- Edmod đƣa ra định nghĩa: “du lịch là việc tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phƣơng diện khách vãng lai mà chính về phƣơng diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí” Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn bách khoa toàn thƣ Việt Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt. Theo các chuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là một dạng nghỉ dƣỡng sức tham quan tích cực của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú với mục đích: Nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh. Theo định nghĩa thứ hai, du lịch đƣợc coi là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thông lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nƣớc, đối với ngƣời nƣớc ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ.
Để tránh sự hiểu lầm và không đầy đủ về du lịch, chúng ta tách du lịch thành hai phần để định nghĩa nó. Du lịch có thể đƣợc hiểu là: - Sự di chuyển và lƣu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cƣ trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở chuyên cung ứng. - Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lƣu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cƣ trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh. Mối liên hệ giữa cộng đồng địa phƣơng và hoạt động du lịch: Tại mỗi vùng, mối quan hệ giữa cộng đồng dân cƣ và tài nguyên thiên nhiên đƣợc thiết lập từ lâu đời.
Ngƣời dân tại địa phƣơng đã sử dụng nguồn tài nguyên đó làm phƣơng tiện sống hoặc kế sinh nhai của mình. Nên hơn ai hết, chính họ có đƣợc những hiểu biết từ kinh nghiệm thực tiễn, hoàn toàn có khả năng góp sức xây dựng quy hoạch, tham gia vào việc xây dựng những chính sách, chiến lƣợc phát triển du lịch tại địa phƣơng. Đối với các hoạt động đa dạng của du lịch, cộng đồng dân cƣ là nguồn nhân lực đáng kể. Những hƣớng dẫn viên là ngƣời địa phƣơng chắc chắn sẽ đƣợc du khách tin cậy bởi vốn kiến thức bản địa và đƣợc coi nhƣ một chủ thể trong chính nội dung du khách đang tìm hiểu.
Những hoạt động khác nhƣ dịch vụ ăn, nghỉ, cung cấp hàng lƣu niệm… cũng là những lĩnh vực thu hút đáng kể nhân lực từ cộng đồng. Đây là cơ hội tạo công ăn việc làm cho họ, giúp hoàn thiện cơ cấu kinh tế, ổn định đời sống. Chính họ sẽ là đội quân chủ lực trực tiếp tham gia bảo vệ môi trƣờng tại khu vực đó. Ngoài ra lực lƣợng này còn trực tiếp nhắc nhở khách, chỉ dẫn, tuyên truyền hoặc cung cấp những thông tin kịp thời nếu có những vi phạm… góp phần nâng cao hiệu quả quản lý.
Cộng đồng địa phƣơng là ngƣời cung cấp các dịch vụ phục vụ du lịch. Có thể nói du lịch về với thiên nhiên chủ yếu diễn ra tại nơi có thiên nhiên hoang sơ. Trong khi đó, những khu vực này thƣờng có địa hình hiểm trở, gây khó khăn và tốn kém cho công tác xây dựng cơ sở hạ tầng và giao thông cũng nhƣ các hoạt động cung ứng dịch vụ du lịch. Vì vậy khách du lịch và các nhà kinh doanh thƣờng dựa vào động đồng dân cƣ tại các làng, bản, thôn.