Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Một số khái niệm và quan điểm về cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng và quản lý rừng cộng đồng 1. Khái niệm về cộng đồng.
Thuật ngữ “Cộng đồng” được khái niệm khác nhau khi đứng trên quan điểm, góc nhìn khác nhau: + Thuật ngữ “cộng đồng” theo FAO (1996) [25] “Cộng đồng là những người sống tại một chỗ trong một tổng thể hoặc là một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung”. + Ở Việt Nam, cộng đồng được hiểu là những người sống trong cùng ranh giới hành chính như cộng đồng thôn, cộng đồng bản. Ranh giới hành chính các thôn, bản đều được thành lập dựa trên lịch sử lâu đời, vì vậy, cộng đồng tại các thôn, bản luôn có mối liên hệ mật thiết, người đứng đầu (trưởng thôn, trưởng bản) có hương ước, quy ước xây dựng lâu đời và được người dân rất tôn trọng, tuân thủ nghiêm ngặt. Khái niệm về lâm nghiệp cộng đồng Lâm nghiệp cộng đồng không chỉ giới hạn trong việc trồng cây rừng trang trại, khu nhà ở hay ven đường mà còn cả tập quán du canh, việc sử dụng, quản lý rừng tự nhiên và việc cung cấp các sản phẩm cây trồng từ nhiều nguồn khác nhau.
Cụ thể: + Thuật ngữ lâm nghiệp cộng đồng ở Nepal được hiểu như là "một nhóm sử dụng rừng (Forest use Group) để chỉ hoạt động lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức bởi các nhóm đồng sử dụng tài nguyên rừng trong một làng” [33] + Theo Arnold (1999) [18] thuật ngữ Lâm nghiệp cộng đồng được sử dụng với nghĩa hẹp hơn “là các hoạt động lâm nghiệp được tiến hành bởi cộng đồng hoặc nhóm người địa phương”. 5 Thuật ngữ “lâm nghiệp cộng đồng” đã được đề cập ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nó hình thành với mục đích tạo dựng một phương thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng, phân cấp trong quản lý rừng, rừng được quản lý bền vững. Mặt khác người dân đang sống phụ thuộc vào rừng, những giải pháp quản lý bảo vệ rừng đóng góp vào việc sinh kế và cải thiện đời sống người dân từ hoạt động lâm nghiệp.
Từ quan điểm đó đã hình thành các phương thức, các chương trình hoạt động quản lý rừng dụa vào cộng đồng. Khái niệm về quản lý rừng cộng đồng Theo Denr (2001) [24], Quản lý rừng dựa vào cộng đồng, dựa trên quan điểm “Con người trước và lâm nghiệp bền vững sẽ theo sau đó”, nó trao cho các cộng đồng quyền và trách nhiệm trực tiếp quản lý và hưởng lợi từ tài nguyên rừng. Quan điểm này cho thấy khi mà các vấn đề đói nghèo và mất công bằng trong tiếp cận nguồn tài nguyên được giải quyết thì các cộng đồng địa phương sẽ nhận thấy trách nhiệm của chính họ trong việc quản lý, bảo vệ rừng. Điều này đã được nhiều Chính phủ, tổ chức phi chính phủ nhận thức rõ ràng và từ đó đã thúc đẩy cho tiến trình này phát triển ở nhiều cộng đồng vùng cao sống phụ thuộc vào rừng.
Trong một số năm gần đây để khẳng định hơn tính sở hữu và làm chủ trong quản lý tài nguyên rừng, khái niệm quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã được phân định rõ hơn. Theo GFA, GTZ (2002) [27]: “Quản lý rừng dựa vào cộng đồng bao gồm tất cả các hoạt động, tổ chức thu hút cộng đồng tham gia và được chia sẻ lợi ích từ rừng”. Tuy nhiên, nó nhấn mạnh và làm rõ quyền sở hữu rừng của cộng đồng, trên cơ sở đó cộng đồng tự tổ chức quản lý sử dụng theo nhu cầu và đảm bảo tính bền vững. Thực ra, khó có một định nghĩa nào đầy đủ có thể phản ánh được thực tế của việc quản lý rừng cộng đồng mà nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ở mỗi nơi một khác nhau.
Từ đó các hình thức quản lý rừng cộng đồng cũng trở nên rất khác nhau. Ngoài ra, việc quản lý rừng 6 cộng đồng không chỉ đóng khung trong các hoạt động của cộng đồng mà nó liên quan đến nhiều bên tham gia như các nhà lập định chính sách, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, các cơ quan tài trợ và các nhà khoa học. Sự tham gia của các tổ chức này ít nhiều cũng có tác động đến tiến trình quản lý, bảo vệ rừng cũng như điều kiện kinh tế, xã hội của các cộng đồng. Khái niệm về vai trò của cộng đồng Vai trò của cộng đồng có thể hiểu một cách chung nhất như sau: “Vai trò của cộng đồng là việc chủ động và trực tiếp trong các hoạt động quản lý bảo vệ và phát triển rừng được Nhà nước giao cho cộng đồng quản lý”.
Các hình thức quản lý rừng trực tiếp bởi cộng đồng đã xuất hiện từ lâu đời trong các cộng đồng dân tộc khác nhau ở Việt Nam. Truyền thống quản lý rừng của họ được thể hiện ở những tục lệ giữ rừng, trồng cây, xây dựng hương ước, quy ước, luật tục bảo vệ rừng, bảo vệ cây cối của nhiều làng xã. Về mặt pháp lý, “Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương” (Điều 2, Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004). Do đó, để quản lý tài nguyên rừng một cách hiệu quả và bền vững, không thể bỏ qua việc phát huy vai trò của cộng đồng người dân sống gần rừng trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Phát huy vai trò tham gia của các cộng đồng trong việc quản lý nguồn tài nguyên này vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống dân tộc vừa có thể tạo ra cách quản lý rừng có hiệu quả và bền vững hơn. Mặc dù không có một định nghĩa hoàn toàn chính xác về quản lý rừng cộng đồng, nhưng không vì thế mà tiến trình của phát triển rừng cộng đồng trên thực tế lại giảm đi. Các hoạt động quản lý rừng cộng đồng đã được người dân thực hiện hàng trăm năm trước đây, công bằng mà nói thì hoạt động quản lý rừng cộng đồng đã được người dân thực hiện trước tất cả những khái niệm về rừng cộng đồng được các nhà khoa học nhắc tới. Hiệu quả về mặt sinh 7 thái, xã hội của các khu rừng cộng đồng đã chỉ ra rằng quản lý rừng cộng đồng là một trong những hoạt động mang tính logíc và hiệu quả nhất trong việc tìm ra những nguyên lý, những chiến lược cơ bản về quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng.
Các nhân tố kinh tế - xã hội và lợi ích từ rừng cộng đồng Năm 1988, Verman [34] có một nghiên cứu điểm ở một khu rừng trồng 4 ha được tạo lập năm 1974 trên đất chăn thả của cộng đồng thôn Dhanori bang Gujarat, Ấn Độ, theo kế hoạch “rừng làng” của Nhà nước. Trong 4 năm liền việc cắt cỏ để bán ra ngoài bị cấm. Cây cối được chặt vào năm 1983 - 1984 và lợi nhuận được phân bổ theo gia đình của cộng đồng, chỉ số lợi nhuận nội bộ của gỗ, củi và cỏ được tính tới 35%. Dân làng được hưởng củi, gỗ nhỏ để làm nhà và sửa lại nhà cửa, có thêm công ăn việc làm.
Thành công đó đã giúp thôn tự tổ chức được một hội trồng cây và tiếp tục trồng thêm vào năm 1984 - 1986. Kết quả trình diễn của khu rừng đã đem lại thêm 200 ha rừng trồng ở khu này. Lam Tom Linson (1994) và Banerjee (1996) [30] cho rằng, nếu chúng ta nhận thức sự mất rừng có liên quan đến các yếu tố kinh tế, xã hội thì việc cần thiết để có thể đảm bảo được sự thành công trong công tác quản lý rừng chính là mối quan tâm và sự tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động đó, phải chú trọng đến mối quan tâm của người dân trong cộng đồng đó là vấn đề sinh kế. Hiện nay, rất nhiều chương trình dự án tham gia quản lý rừng, phục hồi rừng nhưng Chokkalingaman Ravindranath (2001) [23] cho rằng đã thiếu sự chú trọng dài hạn tới cả hai yếu tố sinh thái và kinh tế xã hội.
Chúng thường khởi đầu với sự nhiệt tình trong việc đầu tư kinh phí cũng như phổ biến kỹ thuật cho cộng đồng địa phương nhưng ở giai đoạn cuối của dự án, sự chú trọng này bị giảm sút hoặc thậm chí mất đi với một nguyên nhân không rõ ràng. Chính thực tế này đã làm giảm sự quan tâm của cộng đồng và kết quả của việc quản lý, bảo vệ, phát triển rừng không được như mong đợi. 8 Như vậy, trong quản lý rừng cộng đồng do thiếu nghiên cứu về các vấn đề kinh tế và xã hội một cách đầy đủ, cụ thể, thích hợp mà những biện pháp kỹ thuật thường không được áp dụng hoặc áp dụng một cách hình thức nên không đạt kết quả như mong đợi. Vì vậy, cần xem vấn đề kinh tế và xã hội là những yếu tố có tính quyết định đến việc lựa chọn và áp dụng các giải pháp kỹ thuật vào các mô hình quản lý rừng cộng đồng ở địa phương.
Các nghiên cứu trên thế giới về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng Phương thức quản lý rừng cộng đồng bắt đầu được nhận diện vào những năm đầu của thập kỷ 70, khi mà hạn hán ở châu Phi và lũ lụt ở châu Á đã làm cho tài nguyên rừng bị suy giảm một cách nghiêm trọng. Nhiên liệu và chất đốt cho các cộng đồng nông thôn trở nên ngày càng khó khăn. Chính tại thời điểm này các kinh nghiệm về quản lý rừng cộng đồng ở Ấn Độ (mô hình lâm nghiệp xã hội), Hàn Quốc (mô hình vườn cây cấp bản), Thái Lan (mô hình rừng cấp bản) và ở Tanzania (trồng rừng cấp bản) đã được các nhà khoa học trên thế giới đặc biệt chú ý và chúng được coi như là một giải pháp nhằm phát triển rừng và giải quyết vấn đề chất đốt ở nông thôn. Đến những năm cuối thập kỷ 70 thì khái niệm về quản lý rừng cộng đồng đã được thừa nhận một cách rộng rãi trên toàn thế giới.
Trong thập kỷ 80 các dự án phát triển rừng cộng đồng được mở rộng ra khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Ấn Độ và Nepal. Tên gọi về rừng cộng đồng cũng có những thay đổi như “cùng quản lý rừng - Join Forest Management”; “lâm nghiệp xã hội - Social Forestry”, “quản lý rừng dựa vào cộng đồng - Community Based Forest Management”.