Đặt vấn đề Tham khảo ý kiến Thu thập dữ liệu hướng dẫn, các bài từ các cơ quan báo khoa học chuyên ngành Hệ thống quản lý đường Mô hình Mô hình Mô hình Mô hình đánh giá suy giảm chi phí cải tiến Hệ thống hỗ trợ ra quyết định Áp dụng nghiên cứu Đánh giá kết luận Hình 1.1: quy trình nghiên cứu HVTH : Bùi Minh Dũng Ngành công nghệ và quản lý xây dựng K2011 MSHV : 11080260 Luận văn thạc sĩ Trang 11 CBHD: TS. Lương Đức Long HVTH : Bùi Minh Dũng Ngành công nghệ và quản lý xây dựng K2011 MSHV : 11080260 Luận văn thạc sĩ Trang 12 CBHD: TS. Lương Đức Long CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG MẠNG LƯỚI ĐƯỜNG BỘ VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DUY TU SỬA CHỮA MẠNG LƯỚI ĐƯỜNG BỘ Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Tổng quan mạng lưới đường bộ khu vực thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam. Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2,095.
Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009 thì dân số thành phố là 7,162,864 người (chiếm 8.34% dân số Việt Nam), mật độ trung bình 3,419 người/km². Tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố vượt trên 8 triệu người. Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh chiếm 20.2% tổng sản phẩm và 27.9% giá trị sản xuất công nghiệp của cả quốc gia. Vì vậy, nhiệm vụ quy hoạch và xây dựng hoàn thiện mạng lưới giao thông của thành phố có ý nghĩa chiến lược, đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội (Phan Văn Sơn, 2010).1: sơ đồ mạng lưới giao thông Tp.HCM và khu vực lân cận HVTH : Bùi Minh Dũng Ngành công nghệ và quản lý xây dựng K2011 MSHV : 11080260 Luận văn thạc sĩ Trang 13 CBHD: TS.
Lương Đức Long Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không. Tuy vậy, thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị lớn có dân số tăng quá nhanh. Trong nội đô thành phố, đường sá trở nên quá tải, thường xuyên ùn tắc. Hệ thống giao thông công cộng hoạt động kém hiệu quả.
Môi trường thành phố cũng đang bị ô nhiễm do phương tiện giao thông, các công trường xây dựng và công nghiệp sản xuất. Theo số liệu thống kê đến năm 2010, thành phố Hồ Chí Minh có trên 3.800 tuyến đường, tổng chiều dài khoảng 3. Diện tích bến bãi đỗ xe chiếm khoảng 0,1% diện tích nội đô, chưa đạt 10% so với yêu cầu. Hiện nay, đường bộ gần như là phương thức duy nhất giải quyết nhu cầu giao thông vận tải đô thị.1 Phân tích số liệu về mạng lưới đường bộ hiện có Hiện nay, giao thông đường bộ đóng vai trò quan trọng giải quyết nhu cầu vận tải của thành phố Hồ Chí Minh, trong lúc các hình thức khác như giao thông đường thủy, đường sắt, hàng không,.
chưa thực sự phát triển. Với một đô thị lớn có tổng diện tích trên 2095km2 trong khi diện tích mạng lưới đường bộ chỉ khoảng 30km2 (nếu tính cả các tuyến đường không thuộc sự quản lý của Sở Giao thông vận tải) thì mật độ bình quân là chưa tới 1. Con số này quá thấp so với chỉ tiêu quy hoạch thông thường của các nước trên thế giới (khoảng 10 tới 15%). Trung bình, mỗi người dân thành phố được thụ hưởng khoảng 4m2 diện tích mặt đường.
Nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa quá lớn so với khả năng phục vụ của hệ thống giao thông là một trong các nguyên nhân khiến cho tình trạng đường sá xuống cấp, hư hỏng một cách nhanh chóng.1: tổng hợp chiều dài đường bộ của Tp.HCM đến năm 2010 TT Loại mặt đường Chiều dài (m) Tỉ lệ (%) Ghi chú 1 Bê tông xi măng 34,750 0.94 2 Bê tông nhựa 1,622,315 44.51 Chủ yếu là cấp phối đá dăm HVTH : Bùi Minh Dũng Ngành công nghệ và quản lý xây dựng K2011 MSHV : 11080260 Luận văn thạc sĩ Trang 14 CBHD: TS. Lương Đức Long 5 Đá dăm 163,525 4.63 Thấm nhập nhựa 7 Khác 517,813 14.07 Đường đất, đường hỗn hợp Tổng 3,680,497 Bảng 2.2: tổng hợp diện tích đường bộ của Tp.HCM đến năm 2010 TT Loại mặt đường Diện tích (m2) Tỉ lệ (%) Ghi chú 1 Bê tông xi măng 131,695 0.50 2 Bê tông nhựa 14,520,300 55.74 Chủ yếu là cấp phối đá dăm 5 Đá dăm 805,697 3.53 Thấm nhập nhựa 7 Khác 5,332,810 20.44 Đường đất, đường hỗn hợp Tổng 26,091,469 Ghi chú: Số liệu tổng hợp về mạng lưới đường bộ ở thành phố Hồ Chí Minh chưa bao gồm các tuyến thuộc sự quản lý của Tổng cục đường bộ - Bộ Giao thông vận tải, đường nội bộ các khu công nghiệp, đường nội bộ các khu dân cư chưa làm công tác bàn giao hạ tầng…vv. rất khác nhau. Trong tất cả các loại mặt đường, bêtông nhựa là loại có số lượng chiếm ưu thế về cả chiều dài tuyến và diện tích mặt đường, đặc biệt ở khu vực trung tâm.
Tính đến năm 2010, toàn thành phố có trên 1,622,315m chiều dài (chiếm trên 40%) và 14,520,300m2 diện tích (chiếm gần 56%) mặt đường bêtông nhựa trực thuộc sự quản lý của Sở Giao thông vận tải. HVTH : Bùi Minh Dũng Ngành công nghệ và quản lý xây dựng K2011 MSHV : 11080260 Luận văn thạc sĩ Trang 15 CBHD: TS. Lương Đức Long Hình 2.2: cơ cấu chiều dài đường bộ Thành Phố Hồ Chí Minh Hình 2.3: cơ cấu diện tích đường bộ Thành Phố Hồ Chí Minh Hiện nay, đa số các tuyến đường ở thành phố Hồ Chí Minh có bề rộng mặt cắt ngang khá hẹp, phổ biến nhất là loại từ 4m÷dưới 7m (chiếm hơn 54% về chiều dài và gần 42% về diện tích). Loại dưới 4m chủ yếu tập trung trong nội bộ các khu dân cư, đường hẻm cải tạo, đường bộ hành.
Loại từ 15m trở lên rất ít (chỉ HVTH : Bùi Minh Dũng Ngành công nghệ và quản lý xây dựng K2011 MSHV : 11080260 Luận văn thạc sĩ Trang 16 CBHD: TS. Lương Đức Long chiếm hơn 6% về chiều dài và gần 20% về diện tích). Số liệu thống kê đối với mặt đường bêtông nhựa cho thấy tỷ trọng theo chiều dài và diện tích của các tuyến đường có bề rộng dưới 4m, trên 4m dưới 7m, trên 7m dưới 10m, trên 10m dưới 15m và trên 15m tương đối đồng đều hơn.3: cơ cấu chiều dài theo bề rộng mặt đường của Tp.HCM Chiều Tỉ lệ TT Loại mặt đường Ghi chú dài (m) (%) 1 Nhỏ hơn 4m 507,601 13.79 Đường có 1 làn xe, đường bộ hành 2 Từ 4m÷ dưới 7m 1,990,871 54.09 Đường có 1 làn xe hỗn hợp 3 Từ 7m÷ dưới 10m 605,653 16.46 Đường có 2 làn xe hỗn hợp 4 Từ 10m÷ dưới 15m 342,280 9.30 Đường có 3 làn xe hỗn hợp, 4 làn xe 5 Từ 15m trở nên 234,092 6.36 Đường có trên 4 làn xe Tổng 3,680,497 Bảng 2.4: cơ cấu diện tích theo bề rộng mặt đường của Tp.HCM Diện tích Tỉ lệ TT Loại mặt đường Ghi chú (m) (%) 1 Nhỏ hơn 4m 1,684,884 6.46 Đường có 1 làn xe, đường bộ hành 2 Từ 4m÷ dưới 7m 10,885,594 41.72 Đường có 1 làn xe hỗn hợp 3 Từ 7m÷ dưới 10m 4,642,782 17.79 Đường có 2 làn xe hỗn hợp 4 Từ 10m÷ dưới 15m 3,741,981 14.34 Đường có 3 làn xe hỗn hợp, 4 làn xe 5 Từ 15m trở nên 5,136,228 19.69 Đường có trên 4 làn xe Tổng 26,091,469 HVTH : Bùi Minh Dũng Ngành công nghệ và quản lý xây dựng K2011 MSHV : 11080260 Luận văn thạc sĩ Trang 17 CBHD: TS. Lương Đức Long Hình 2.4: cơ cấu chiều dài theo bề rộng mặt đường Hình 2.5: cơ cấu diện tích theo bề rộng mặt đường Qua phân tích số liệu về mạng lưới đường ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay nhận thấy rõ một số đặc điểm nổi bật như sau: • Cơ cấu các đường theo chức năng, theo nhu cầu vận tải, theo địa bàn,.
phân bố chưa hợp lý. Rõ ràng, đường bêtông nhựa được tập trung xây dựng nhiều ở khu vực nội thành và có kích thước mặt cắt ngang tương HVTH : Bùi Minh Dũng Ngành công nghệ và quản lý xây dựng K2011 MSHV : 11080260 Luận văn thạc sĩ Trang 18 CBHD: TS. Lương Đức Long đối phù hợp hơn. Khu vực giáp ranh, mạng lưới đường bộ dày đặc nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu vận tải, tạo thêm áp lực giao thông cho khu vực trung tâm; • Thiếu các đường vành đai, đường cao tốc, đường trục trung tâm là các loại có năng lực thông hành lớn; • Chức năng liên kết đường bộ với các loại hình giao thông khác, giữa các tuyến đường với nhau còn hạn chế; • Thiếu một bản quy hoạch mạng lưới giao thông đường bộ và các loại hình giao thông khác có tính thống nhất và pháp lý chặt chẽ nhằm định hướng cho công tác xây dựng, sửa chữa, nâng cấp,… 2.2 Đánh giá tình trạng hư hỏng và nhu cầu sửa chữa đường Ngoại trừ mặt đường bêtông xi măng thường có tuổi thọ cao hơn bêtông nhựa (trung bình khoảng từ 5÷ 10 năm), các loại mặt đường khác nhanh xuống cấp, hư hỏng hơn.
Theo tiêu chuẩn thiết kế áo đường mềm 22TCN 211-06, thời hạn tính toán (tuổi thọ) của mặt bêtông nhựa nằm trong khoảng 10÷15 năm. Thực tế cho thấy, trong điều kiện của thành phố Hồ Chí Minh có điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa với chế độ thu nhiệt (độ ẩm và nhiệt độ) khá cao và lưu lượng giao thông lớn, trong khi tốc độ tăng trưởng phương tiện hàng năm cao (hơn mức dự bao thông thường) thì các công trình đường sá rất mau hư hỏng, sớm xuống cấp, tuổi thọ đường bêtông nhựa trung bình đã giảm đi từ 4÷6 năm. Chưa kể đến sự phổ biến tình trạng chậm trễ bảo dưỡng, duy tu các đoạn đường hư hỏng không kịp thời đã làm cho tuổi thọ đường bị rút ngắn nhanh hơn nữa, nhất là các đoạn tuyến thường xuyên bị ngập do mưa lớn và triều cường. Số liệu thống kê cho thấy có gần 82% theo chiều dài và gần 87% theo diện tích mặt đường của thành phố được xây dựng (hoặc sửa chữa lớn) trước năm 2000.