Tổng quan nghiên cứu

Hỏa hoạn và động đất là hai thảm họa thiên nhiên cũng như nhân tạo gây ra những thiệt hại khốc liệt nhất đối với các công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp. Thống kê từ các sự kiện chấn động toàn cầu như trận động đất Tohoku năm 2011 với cường độ 9,1 độ Richter làm hơn 15.000 người thiệt mạng và hơn 125.000 công trình bị hư hại hoàn toàn, hay các vụ hỏa hoạn nghiêm trọng tại Việt Nam như vụ cháy chung cư ITC làm 60 người tử vong với thiệt hại hơn 32 tỉ đồng và chung cư Carina Plaza năm 2018 làm 13 người chết, đã đặt ra hồi chuông cảnh báo về an toàn kết cấu.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi được đặt ra là sự suy giảm nghiêm trọng về độ bền cơ học và khả năng kháng chấn của kết cấu khung bê tông cốt thép sau khi trải qua hỏa hoạn, đặc biệt là khi công trình tiếp tục chịu các đợt rung chấn hoặc tải trọng ngang tuần hoàn. Đa số các công trình sau sự cố cháy thường đối mặt với nguy cơ bị phá dỡ do thiếu căn cứ khoa học để đánh giá khả năng chịu lực còn lại.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là chế tạo khung bê tông cốt thép toàn khối theo tỷ lệ thực 1:1, tiến hành thí nghiệm đốt cháy cưỡng bức ngoài hiện trường theo tiêu chuẩn ISO 834:1999 với hai mốc thời gian 45 phút và 75 phút, sau đó thực hiện gia tải ngang tuần hoàn mô phỏng tải trọng động đất cho đến khi kết cấu bị phá hoại. Toàn bộ chương trình thực nghiệm được triển khai tại thành phố Vĩnh Long trong phạm vi thời gian 6 tháng, từ ngày 10/02/2020 đến ngày 03/08/2020.

Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi xác định định lượng mức độ suy giảm khả năng chịu lực của khung bị cháy lên tới 50% so với khung tiêu chuẩn. Dữ liệu thực nghiệm này cung cấp cơ sở kỹ thuật chuẩn xác, giúp các kỹ sư kết cấu đưa ra giải pháp gia cường thay vì phá dỡ toàn bộ, giúp tiết kiệm từ 30% đến hơn 40% tổng chi phí đầu tư xây mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của lý thuyết cơ học biến dạng phi tuyến và ứng xử của vật liệu bê tông cốt thép dưới tác động của nhiệt độ cao kết hợp với lý thuyết ứng xử trễ của kết cấu khi chịu tải trọng ngang chu kỳ lặp. Các mô hình tính toán độ bền kết cấu được đối chiếu theo tiêu chuẩn thiết kế bê tông cốt thép hiện hành TCVN 5574:2018 và tiêu chuẩn quốc tế ACI 318.

Mô hình nghiên cứu là hệ khung phẳng bê tông cốt thép toàn khối tỷ lệ 1:1, phản ánh chân thực trạng thái làm việc không gian của các cấu kiện cột, dầm và nút khung. Trong khuôn khổ lý thuyết, các khái niệm trọng tâm bao gồm:

  • Khớp dẻo: Vùng tập trung biến dạng dẻo tại chân cột và đầu dầm, nơi xuất hiện sự suy giảm mô men kháng uốn sau khi chịu tác động nhiệt độ cao.
  • Suy giảm độ cứng: Hiện tượng suy giảm độ cứng tiếp tuyến và độ cứng cát tuyến qua từng chu kỳ gia tải lặp do sự phát triển liên tục của các vết nứt vi mô và vĩ mô.
  • Hiện tượng nứt vỡ và bong tróc bê tông: Sự phân tách cơ học của lớp bê tông bảo vệ bên ngoài do áp suất hơi nước nội tại và ứng suất nhiệt vượt quá cường độ chịu kéo của bê tông khi nhiệt độ vượt mốc 400 độ C.
  • Đường bao quan hệ lực - chuyển vị: Đường cong giới hạn thể hiện năng lực chịu lực cực hạn và độ dẻo của kết cấu trong quá trình biến dạng phi tuyến.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm hiện trường trên mô hình vật lý tỷ lệ thực 1:1. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ quy trình thi công, đo đạc nhiệt độ đám cháy và kích tải thủy lực ngoài công trường.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 03 khung bê tông cốt thép toàn khối tỷ lệ thực, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu chủ đích có đối chứng:

  • Khung đối chứng F-0: Không qua xử lý nhiệt, chịu tác dụng của tải trọng ngang đẩy đơn điệu.
  • Khung thí nghiệm F-45-4: Bị đốt cháy trong thời gian 45 phút bằng 2 thước củi kết hợp dầu dẫn truyền nhiệt, sau đó chịu tải trọng ngang tuần hoàn.
  • Khung thí nghiệm F-75-4: Bị đốt cháy trong thời gian 75 phút bằng 3 thước củi kết hợp dầu, sau đó chịu tải trọng ngang tuần hoàn.

Vật liệu chế tạo mẫu sử dụng bê tông cấp bền B20 với mác thiết kế M250. Cấp phối cho 1 m3 bê tông gồm 350 kg xi măng Hà Tiên PCB 50, 157 lít nước sạch, 752 kg cát Tân Châu, 1170 kg đá 1x2 Tân Cang và 3 lít phụ gia hóa dẻo Sika R7. Cường độ nén thực tế của các mẫu thử hình trụ đường kính 150 mm và chiều cao 300 mm ở 28 ngày tuổi đạt giá trị trung bình 24,8 MPa. Thép dọc sử dụng loại CB300-V với đường kính phi 14 có giới hạn chảy thực tế đạt 335,7 N/mm2, cốt đai sử dụng thép phi 6 bố trí dày phi 6a100 ở các vùng khớp dẻo và phi 6a200 ở giữa nhịp.

Phương pháp phân tích thực nghiệm bán tĩnh được lựa chọn vì đây là phương pháp duy nhất ghi nhận chính xác phản ứng trễ thực tế, sự suy giảm liên kết giữa cốt thép và bê tông mà các mô hình số thu nhỏ khó mô phỏng trọn vẹn. Hệ thống thu thập số liệu gồm súng đo nhiệt độ hồng ngoại từ xa, cảm biến đo chuyển vị LVDT và kích thủy lực tác động hai chiều. Toàn bộ chu kỳ nghiên cứu diễn ra từ tháng 02/2020 đến tháng 08/2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình thực nghiệm đã cung cấp các số liệu định lượng chi tiết về sự thay đổi cơ lý và khả năng làm việc của khung bê tông cốt thép sau hỏa hoạn:

Thứ nhất, khả năng chịu tải trọng ngang cực hạn của khung bê tông cốt thép bị cháy suy giảm xấp xỉ 50% so với khung nguyên vẹn không bị tác động nhiệt. Khung đối chứng F-0 chịu tải đơn đạt lực kháng cắt đỉnh cao gấp đôi so với các khung F-45-4 và F-75-4 khi chịu tải chu kỳ.

Thứ hai, thời gian tiếp xúc với ngọn lửa và nhiệt độ đỉnh làm gia tăng mức độ hư hại bề mặt kết cấu. Ở khung F-45-4, lớp bê tông bề mặt bị rạn nứt dạng mạng nhện với bề rộng vết nứt từ 0,5 mm đến 1,5 mm. Trong khi đó, ở khung F-75-4, mật độ vết nứt tăng hơn 35%, hiện tượng bong tróc lớp bê tông bảo vệ dày 25 mm diễn ra cục bộ tại các góc cột và mép dầm, làm lộ cốt thép chủ phi 14 ra môi trường nhiệt.

Thứ ba, độ cứng ban đầu của khung bị cháy suy giảm hơn 40% chỉ sau 3 chu kỳ gia tải ngang đầu tiên. Càng ở các chu kỳ gia tải sau với biên độ chuyển vị lớn, độ cứng cát tuyến của khung càng tụt dốc nhanh chóng, thể hiện rõ hiện tượng trượt biến dạng và bóp nghẹt vòng trễ.

Thứ tư, dạng phá hoại của khung bị cháy dưới tác dụng của tải tuần hoàn tập trung hoàn toàn tại các vùng khớp dẻo ở chân cột đoạn cách mặt sàn 500 mm và nút liên kết dầm - cột. Tại các vị trí này, bê tông vùng nén bị vỡ vụn hoàn toàn, cốt đai phi 6a100 bị biến dạng và cốt thép dọc phi 14 bị uốn cong cục bộ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm đột ngột 50% khả năng chịu lực bắt nguồn từ sự phân hủy khoáng vật trong đá xi măng ngậm nước ở nhiệt độ trên 500 độ C. Hiện tượng mất nước liên kết làm suy giảm cường độ nén của bê tông từ mức 24,8 MPa ban đầu xuống mức rất thấp, đồng thời làm mất hoàn toàn lực dính bám giữa thanh cốt thép CB300-V và vùng bê tông bao bọc. Khi tải trọng ngang tuần hoàn tác động, việc đổi chiều lực liên tục khiến các vết nứt nhiệt sẵn có mở rộng nhanh chóng và không thể khép kín hoàn toàn, tạo ra sự suy thoái liên kết nghiêm trọng.

Kết quả thí nghiệm này tương đồng với các nghiên cứu của Hoàng Anh Giang năm 2017 về ứng xử của dầm bê tông cốt thép chịu lửa và nghiên cứu của Shah và cộng sự năm 2017 trên khung bê tông cốt thép chịu tải động đất kết hợp hỏa hoạn. Tuy nhiên, thí nghiệm tỷ lệ 1:1 trong luận văn này đã chứng minh rõ hơn rằng tác động cộng hưởng của tải chu kỳ sau cháy làm tốc độ phá hủy diễn ra nhanh hơn 20% đến 30% so với trường hợp tải tĩnh đơn điệu.

Dữ liệu thực nghiệm được trực quan hóa qua hệ thống bảng số liệu kiểm tra cường độ nén và biểu đồ đường cong trễ lực - chuyển vị. Các biểu đồ này phản ánh rõ diện tích bao quanh của vòng trễ bị thu hẹp đáng kể theo từng vòng lặp, minh chứng khả năng tiêu tán năng lượng địa chấn của khung bị triệt tiêu phần lớn sau khi tiếp xúc với nhiệt độ cao từ 45 đến 75 phút.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm thu được, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp kỹ thuật cụ thể nhằm nâng cao khả năng an toàn và xử lý công trình sau sự cố cháy:

Thứ nhất, ban hành quy chuẩn kiểm định kỹ thuật bắt buộc đối với công trình bê tông cốt thép sau hỏa hoạn. Các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Xây dựng cần xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá nhanh hiện trạng, trong đó áp dụng hệ số suy giảm khả năng chịu tải trọng ngang tối thiểu 50% đối với các cấu kiện bị cháy trên 45 phút. Thời gian triển khai dự kiến trong vòng 12 đến 18 tháng.

Thứ hai, ứng dụng giải pháp gia cường kháng chấn bằng vật liệu composite sợi carbon hoặc bọc áo bê tông cốt thép tăng cường. Các đơn vị tư vấn thiết kế và nhà thầu thi công cần tập trung gia cố toàn diện vùng khớp dẻo tại chân cột và nút khung trong vòng 3 đến 6 tháng kể từ khi xảy ra sự cố. Mục tiêu là phục hồi tối thiểu 85% cường độ chịu lực và 80% độ cứng ban đầu của kết cấu trước khi đưa vào tái sử dụng.

Thứ ba, cải tiến cấu tạo cốt thép kháng chấn và lớp bảo vệ trong thiết kế mới. Các kỹ sư thiết kế kết cấu cần chủ động tăng chiều dày lớp bê tông bảo vệ từ 25 mm lên 35 đến 40 mm cho các cấu kiện cột và dầm chịu lực chính, đồng thời thu hẹp khoảng cách cốt đai tại vùng chân cột xuống mức phi 6a50 hoặc phi 8a70 theo khuyến nghị của ACI 318 để gia tăng khả năng bọc giữ bê tông lõi khi có cháy.

Thứ tư, lắp đặt hệ thống quan trắc chuyển vị và cảnh báo nhiệt độ tự động tại các công trình công cộng và chung cư cao tầng. Chủ đầu tư dự án cần hoàn thiện lắp đặt mạng lưới cảm biến đo độ nghiêng và cảm biến nhiệt độ thông minh trong vòng 24 tháng nhằm phát hiện sớm các biến dạng bất thường sau các vụ cháy cục bộ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và số liệu thực nghiệm trong luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  • Kỹ sư thiết kế kết cấu công trình: Nắm bắt được quy luật suy giảm độ cứng và khả năng chịu tải thực tế của khung 1:1, từ đó tối ưu hóa việc bố trí cốt thép đai kháng chấn và lựa chọn cấp phối bê tông có khả năng chịu nhiệt cao cho các dự án nhà cao tầng.
  • Chuyên gia và kỹ sư kiểm định chất lượng xây dựng: Ứng dụng phương pháp quan sát vết nứt bề mặt, chiều sâu bong tróc và biểu đồ quan hệ lực - chuyển vị để thẩm định chính xác mức độ an toàn của các tòa nhà sau sự cố hỏa hoạn, phục vụ công tác cấp phép sử dụng lại.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Kỹ thuật Xây dựng: Sử dụng toàn bộ quy trình công nghệ chế tạo mẫu tỷ lệ thực, kỹ thuật tạo đám cháy hiện trường theo ISO 834:1999 và sơ đồ gia tải chu kỳ làm tài liệu tham khảo để phát triển các đề tài mô phỏng số chuyên sâu.
  • Chủ đầu tư và các đơn vị quản lý vận hành tòa nhà: Hiểu rõ cơ sở khoa học để đưa ra quyết định kinh tế chính xác giữa việc gia cường phục hồi kết cấu với chi phí thấp hơn 40% so với phương án phá dỡ xây mới toàn bộ.

Câu hỏi thường gặp

Khả năng chịu lực của khung bê tông cốt thép suy giảm bao nhiêu phần trăm sau khi bị cháy?

Kết quả thí nghiệm thực tế trên khung tỷ lệ 1:1 cho thấy khả năng chịu tải trọng ngang của khung bị cháy giảm xấp xỉ 50% so với khung không bị cháy. Sự suy giảm này là do tác động đồng thời của nhiệt độ cao làm mất nước trong bê tông mác 24,8 MPa và tải trọng chu kỳ làm đứt gãy liên kết dính bám của cốt thép.

Vì sao nghiên cứu lại chọn thực nghiệm trên khung tỷ lệ thực 1:1 ngoài hiện trường?

Thực nghiệm tỷ lệ thực 1:1 với cột 200x250 mm và dầm 200x220 mm giúp loại bỏ hoàn toàn các sai số về hiệu ứng tỷ lệ kích thước vốn thường xảy ra trên các mẫu thử nghiệm thu nhỏ trong phòng thí nghiệm. Phương pháp này phản ánh chính xác 100% ứng xử truyền nhiệt và phân bố ứng suất thực tế của công trình.

Thời gian cháy 45 phút và 75 phút tạo ra sự khác biệt như thế nào đối với kết cấu?

Thời gian cháy 75 phút làm tăng mật độ vết nứt bề mặt lên hơn 35% và gây ra hiện tượng nổ vỡ, bong tróc toàn bộ lớp bê tông bảo vệ dày 25 mm làm trơ cốt thép chủ phi 14. Trong khi đó, khung cháy 45 phút chủ yếu xuất hiện các vết nứt nhiệt dạng chân chim bề rộng dưới 1,5 mm.

Vị trí nào trong khung chịu lực bị hư hại nặng nề nhất khi có tải chu kỳ sau cháy?

Khu vực chịu hư hại nghiêm trọng nhất là các vùng khớp dẻo tại chân cột cách móng 500 mm và hai đầu dầm giao với cột. Dưới tác động uốn - nén tuần hoàn, bê tông tại các vị trí này bị vỡ vụn từng mảng lớn và cốt thép chủ bị mất ổn định uốn dọc cục bộ.

Công trình sau khi bị cháy và chịu chấn động có thể sửa chữa tái sử dụng được không?

Hoàn toàn có thể sửa chữa và tái sử dụng nếu kết cấu được gia cường đúng kỹ thuật bằng phương pháp bọc sợi composite carbon hoặc đổ tăng cường áo bê tông cốt thép tại các khớp dẻo. Giải pháp này giúp khôi phục trên 85% khả năng chịu tải ban đầu với chi phí tiết kiệm hơn 40% so với phá dỡ.

Kết luận

  • Luận văn đã hoàn thành xuất sắc việc khảo sát thực nghiệm trên 03 khung bê tông cốt thép tỷ lệ thực 1:1 chịu tác động của lửa theo tiêu chuẩn ISO 834:1999 và tải trọng ngang tuần hoàn.
  • Xác định định lượng mức độ suy giảm khả năng chịu tải ngang của khung bị cháy lên tới xấp xỉ 50% so với khung chuẩn đối chứng F-0.
  • Làm rõ quy luật suy giảm độ cứng trên 40% ngay trong các chu kỳ đầu và cơ chế phá hoại tập trung tại các khớp dẻo chân cột cũng như nút khung.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu thực nghiệm quý báu cho ngành xây dựng Việt Nam, phục vụ trực tiếp cho công tác kiểm định, sửa chữa và ban hành tiêu chuẩn an toàn cháy.
  • Kế hoạch tiếp theo trong 12 đến 24 tháng tới là mở rộng mô hình hóa số trên phần mềm chuyên dụng và thử nghiệm thêm các giải pháp bọc vật liệu chống cháy tiên tiến nhằm bảo vệ công trình bền vững trước thảm họa kép.