Tổng quan nghiên cứu
Ngành công nghiệp nhiệt điện Việt Nam đang thải ra khoảng 13 triệu tấn tro, xỉ mỗi năm từ 25 nhà máy đốt than đang hoạt động. Trong đó, tro bay chiếm từ 80% đến 85% tổng lượng phát thải, tương đương hơn 10 triệu tấn mỗi năm cần được xử lý và tái sử dụng. Tính đến cuối năm 2020, tổng lượng tro xỉ tồn đọng tại các bãi chứa vẫn còn khoảng 47,65 triệu tấn, gây áp lực lớn lên môi trường và hạ tầng lưu trữ.
Luận văn thạc sĩ "Nghiên cứu ứng dụng tro bay thay thế một phần xi măng trong bê tông để sử dụng cho dầm bê tông cốt thép" của tác giả Bùi Lý Vĩ, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung, được thực hiện năm 2021 nhằm giải quyết khoảng trống nghiên cứu quan trọng này. Dù đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của tro bay đến cường độ chịu nén của bê tông, nhưng chưa có công trình thực nghiệm cụ thể nào đánh giá tác động của tro bay đến khả năng chịu uốn và chịu cắt của dầm bê tông cốt thép (BTCT) ở cấp độ bền B20.
Nghiên cứu tập trung vào bốn tỉ lệ thay thế tro bay: 15%, 20%, 25% và 40% so với khối lượng xi măng, trên cơ sở so sánh với mẫu đối chứng không sử dụng tro bay. Phạm vi nghiên cứu sử dụng vật liệu địa phương tỉnh Phú Yên, gồm cát Sông Ba, đá 1x2 mỏ Nắng Ban Mai, xi măng Nghi Sơn và thép Việt Mỹ.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện ở hai khía cạnh: giúp tiêu thụ lượng lớn tro bay đang tồn đọng — trong khi tro bay hiện chỉ được sử dụng làm phụ gia bê tông chiếm khoảng 8% tổng lượng tiêu thụ — đồng thời đưa ra cơ sở khoa học để ứng dụng hàm lượng tro bay tối ưu vào sản xuất dầm BTCT thực tế, góp phần giảm chi phí xây dựng và bảo vệ môi trường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu dựa trên hai nhóm lý thuyết nền tảng trong kỹ thuật xây dựng.
Lý thuyết về cường độ và đặc tính cơ học của bê tông có tro bay: Tro bay là sản phẩm từ quá trình đốt than nhiệt điện, có kích thước hạt siêu mịn khoảng 0,05 micromet (50 nanomet). Nhờ bị thiêu đốt ở nhiệt độ khoảng 1.400°C, tro bay sở hữu tính pozzolan — khả năng phản ứng với canxi hydroxit (Ca(OH)₂) trong quá trình thủy hóa xi măng để tạo thành các sản phẩm cementite bổ sung, cải thiện độ đặc chắc và độ bền của bê tông. Thành phần hóa học của tro bay bao gồm chủ yếu SiO₂ (59,62%), Al₂O₃ (15,76%) và Fe₂O₃ (10%), thuộc nhóm tro axit (ký hiệu F) theo TCVN 10302-2014. Tổng hàm lượng SiO₂ + Al₂O₃ + Fe₂O₃ đạt 85,38%, vượt ngưỡng tối thiểu 70% quy định cho tro loại F dùng trong bê tông cốt thép (nhóm a).
Năm khái niệm chuyên ngành cốt lõi trong nghiên cứu bao gồm: (1) Cường độ chịu nén Rb — xác định theo TCVN 3118-1993; (2) Mô đun đàn hồi Eb — đặc trưng biến dạng bê tông; (3) Hệ số Poisson — tỉ lệ biến dạng ngang trên dọc; (4) Khả năng chịu uốn theo tiết diện thẳng góc; (5) Khả năng chịu cắt theo tiết diện nghiêng.
Lý thuyết tính toán dầm BTCT theo TCVN 5574-2018: Tiêu chuẩn quốc gia hiện hành quy định phương pháp xác định moment uốn tới hạn M_gh, độ võng lớn nhất f_m và lực cắt Q trên tiết diện nghiêng. Điều kiện đảm bảo khả năng chịu lực: M ≤ M_gh và Q ≤ Q_b + Q_sw. Lý thuyết giả thiết rằng toàn bộ lực kéo do cốt thép chịu, biến dạng của cốt thép và bê tông tại bề mặt tiếp xúc là như nhau, và tiết diện sau biến dạng vẫn phẳng.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế mẫu thực nghiệm: Nghiên cứu sử dụng 5 tổ hợp mẫu với tổng cộng hơn 80 mẫu thí nghiệm. Mẫu lập phương 15×15×15 cm dùng để đo cường độ chịu nén và mô đun đàn hồi. Mẫu dầm BTCT kích thước 100×150×800 mm dùng để thí nghiệm uốn. Mỗi tổ hợp gồm mẫu đối chứng (B20-0) và bốn mức thay thế tro bay: B20-15, B20-20, B20-25 và B20-40.
Phương pháp chọn mẫu: Phương pháp thực nghiệm có kiểm soát (controlled experiment) được áp dụng. Tất cả mẫu sử dụng cùng nguồn vật liệu địa phương, cùng tỉ lệ nước/chất kết dính, cùng điều kiện dưỡng hộ, chỉ thay đổi tỉ lệ tro bay thay thế xi măng. Phương pháp này cho phép cô lập biến độc lập duy nhất là hàm lượng tro bay.
Phương pháp phân tích: Cường độ chịu nén đo tại 3 mốc thời gian: 3 ngày, 7 ngày và 28 ngày tuổi theo TCVN 3118-1993. Thí nghiệm uốn dầm thực hiện ở 28 ngày tuổi, đo quan hệ tải trọng – chuyển vị bằng hệ thống đo STS-WiFi với Loadcell và LVDT. Lý do lựa chọn phương pháp thực nghiệm: các nghiên cứu lý thuyết trước chưa phản ánh đúng hành vi thực tế của bê tông có tro bay trong kết cấu dầm chịu uốn và cắt đồng thời.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phát hiện 1 — Cường độ chịu nén của bê tông B20 có tro bay:
Kết quả thí nghiệm cho thấy cường độ chịu nén của bê tông có tro bay ở tuổi 3 và 7 ngày thấp hơn mẫu đối chứng, phù hợp với đặc tính phản ứng pozzolan chậm của tro bay. Tuy nhiên ở 28 ngày tuổi, mẫu B20-20 (thay thế 20% xi măng bằng tro bay) đạt cường độ tương đương hoặc vượt mẫu đối chứng B20-0. Điều này tương đồng với kết quả nghiên cứu bê tông chất lượng siêu cao cho thấy mẫu sử dụng 20% FA đạt cường độ lớn nhất, tương ứng 114 MPa ở điều kiện dưỡng hộ tiêu chuẩn và 153 MPa ở dưỡng hộ nhiệt ẩm. Ở tỉ lệ thay thế 40%, cường độ bắt đầu suy giảm rõ rệt so với mẫu đối chứng.
Biểu đồ cường độ chịu nén của 5 tổ hợp mẫu có thể được trình bày dưới dạng đường cong phát triển cường độ theo thời gian (trục hoành: ngày tuổi; trục tung: cường độ MPa), giúp minh họa rõ tốc độ tăng cường độ khác nhau giữa các tỉ lệ tro bay.
Phát hiện 2 — Mô đun đàn hồi:
Mô đun đàn hồi của các tổ mẫu có xu hướng biến đổi tỉ lệ thuận với cường độ chịu nén. Mẫu B20-20 duy trì mô đun đàn hồi ổn định, trong khi mẫu B20-40 có mô đun đàn hồi thấp hơn so với mẫu đối chứng, ảnh hưởng đến độ cứng kết cấu dầm.
Phát hiện 3 — Khả năng chịu uốn của dầm BTCT:
Theo tính toán lý thuyết, lực tới hạn P của các tổ mẫu dao động trong khoảng từ 49,01 kN đến 49,31 kN, gần tương đương nhau, phản ánh ảnh hưởng không đáng kể của tro bay đến mô men uốn tới hạn ở cùng cấp độ bền B20. Mẫu B20-0 đạt P = 49,31 kN, mẫu B20-15 đạt 49,11 kN, mẫu B20-20 đạt 49,31 kN, mẫu B20-25 đạt 49,16 kN và mẫu B20-40 đạt 49,01 kN.
Quan hệ tải trọng – chuyển vị của từng tổ mẫu thể hiện qua biểu đồ đường cong: các mẫu B20-15 và B20-20 có hình dạng đường cong gần với mẫu đối chứng, cho thấy tro bay ở tỉ lệ này không làm suy giảm đáng kể ứng xử uốn của dầm.
Phát hiện 4 — Khả năng chịu cắt:
Toàn bộ 5 tổ mẫu đều được đánh giá "không đảm bảo" khả năng chịu cắt theo lý thuyết (TCVN 5574-2018), với độ võng tới hạn dao động từ 6,77 mm (B20-20) đến 7,48 mm (B20-40). Thực nghiệm ghi nhận phần lớn mẫu bị phá hoại theo dạng kết hợp uốn và cắt, một số mẫu phá hoại cắt đơn thuần. Đây là phát hiện có ý nghĩa thực tế quan trọng cho thiết kế kết cấu.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân tro bay ở tỉ lệ 15–20% không làm suy giảm đáng kể khả năng chịu uốn của dầm B20 xuất phát từ cơ chế pozzolan: phản ứng giữa SiO₂ trong tro bay với Ca(OH)₂ tạo ra thêm sản phẩm CSH (canxi silicat hydrat), bù đắp phần xi măng bị thay thế. Trong khi đó, tỉ lệ 40% vượt quá ngưỡng này, khiến lượng xi măng còn lại không đủ để cung cấp Ca(OH)₂ cho phản ứng pozzolan hoàn toàn.
So sánh với các nghiên cứu trước, kết quả phù hợp với nghiên cứu về bê tông thương phẩm tại Đại học Xây dựng, trong đó tỉ lệ thay thế 20–30% được xác định là vùng tối ưu cho bê tông mác cao (M300–M600). Tuy nhiên, luận văn này là công trình đầu tiên xác nhận điều này trên cấu kiện dầm BTCT B20 chịu uốn thực tế, bổ sung khoảng trống về ứng xử kết cấu mà các nghiên cứu trước chưa đề cập.
Đề xuất và khuyến nghị
1. Áp dụng tỉ lệ thay thế tro bay 15–20% cho sản xuất dầm BTCT B20 đại trà:
Các đơn vị sản xuất bê tông và nhà thầu xây dựng cần triển khai ngay tỉ lệ tro bay 15–20% trong thiết kế cấp phối bê tông dùng cho dầm BTCT cấp độ bền B20. Mục tiêu: giảm 15–20% lượng xi măng sử dụng mà không ảnh hưởng đến cường độ 28 ngày, từ đó tiết kiệm chi phí vật liệu và hạ phát thải CO₂. Cần hoàn thiện thiết kế cấp phối chuẩn trong thời gian 3–6 tháng đầu triển khai.
2. Mở rộng nghiên cứu thực nghiệm sang các cấp độ bền khác (B25, B30):
Các viện nghiên cứu và trường đại học chuyên ngành kỹ thuật xây dựng cần tiến hành nghiên cứu tương tự trên bê tông B25 và B30. Mục tiêu: xây dựng bộ dữ liệu toàn diện về tỉ lệ tro bay tối ưu cho từng cấp độ bền. Đây là bước cần thiết để tiến tới ban hành hướng dẫn kỹ thuật quốc gia, hoàn thành trong 12–18 tháng.
3. Tích hợp tro bay vào tiêu chuẩn thiết kế kết cấu dầm cầu và công trình giao thông:
Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải) cần xem xét bổ sung quy định về sử dụng tro bay vào TCVN 5574 và các tiêu chuẩn thiết kế cầu đường. Đây là công cụ chính sách quan trọng để đẩy mạnh tiêu thụ tro bay — hiện tỉ lệ tiêu thụ tro bay làm phụ gia bê tông mới chỉ đạt khoảng 8% tổng lượng phát thải, trong khi mục tiêu Quyết định 452/QĐ-TTg đặt ra cao hơn nhiều.
4. Xây dựng chuỗi cung ứng tro bay chất lượng kiểm soát từ nhà máy nhiệt điện đến công trường:
Tập đoàn EVN, TKV và các chủ đầu tư BOT cần phối hợp thiết lập hệ thống kiểm soát chất lượng tro bay đầu ra theo TCVN 10302-2014, bao gồm kiểm tra định kỳ các chỉ tiêu: hàm lượng MKN, độ ẩm, lượng sót sàng 45 µm và hoạt độ phóng xạ. Mục tiêu đến năm 2027: đưa tỉ lệ tiêu thụ tro bay lên 60%, giảm lượng tồn đọng từ 47,65 triệu tấn xuống dưới 20 triệu tấn.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
1. Kỹ sư kết cấu và thiết kế xây dựng:
Luận văn cung cấp dữ liệu thực nghiệm về quan hệ tải trọng – chuyển vị của dầm BTCT B20 có tro bay, giúp kỹ sư hiệu chỉnh mô hình tính toán khi áp dụng tro bay vào kết cấu thực. Đặc biệt hữu ích cho các dự án dân dụng và giao thông tại các tỉnh miền Trung, nơi có nguồn tro bay dồi dào từ các nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân, chiếm 23% tổng lượng phát thải toàn quốc.
2. Nhà sản xuất bê tông thương phẩm và nhà thầu thi công:
Kết quả cấp phối thực tế của 5 tổ hợp mẫu B20 — sử dụng vật liệu địa phương tỉnh Phú Yên — là tài liệu tham chiếu thiết thực để điều chỉnh thiết kế mix design, giảm chi phí xi măng từ 15–40% mà không ảnh hưởng đến cường độ chịu uốn của dầm ở 28 ngày tuổi.
3. Nhà hoạch định chính sách và quản lý môi trường:
Trong bối cảnh Quyết định 452/QĐ-TTg chưa đạt mục tiêu sau 4 năm triển khai, luận văn cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chính sách bắt buộc hoặc khuyến khích sử dụng tro bay trong kết cấu BTCT, từ đó giải quyết bài toán hơn 47,65 triệu tấn tro xỉ đang tồn đọng.
4. Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành vật liệu xây dựng:
Luận văn cung cấp quy trình thực nghiệm hoàn chỉnh — từ kiểm tra nguyên liệu đầu vào (cát, xi măng, đá, tro bay) đến đúc mẫu, dưỡng hộ và thử tải — theo đúng các tiêu chuẩn TCVN hiện hành. Đây là nền tảng phương pháp cho các nghiên cứu mở rộng sang bê tông cường độ cao hoặc nghiên cứu ảnh hưởng dài hạn (56 ngày, 90 ngày) của tro bay.
Câu hỏi thường gặp
1. Tro bay là gì và tại sao có thể thay thế xi măng trong bê tông?
Tro bay là sản phẩm thu hồi từ ống khói nhà máy nhiệt điện đốt than, có dạng hạt cầu siêu mịn kích thước 0,05 micromet. Nhờ chứa SiO₂ chiếm đến 59,62%, tro bay có phản ứng pozzolan: kết hợp với Ca(OH)₂ sinh ra trong quá trình thủy hóa xi măng tạo thành CSH bổ sung, làm đặc chắc cấu trúc bê tông và tăng độ bền theo thời gian, đặc biệt sau 28 ngày tuổi.
2. Tỉ lệ tro bay bao nhiêu phần trăm là tối ưu cho dầm BTCT B20?
Dựa trên kết quả thực nghiệm của luận văn, tỉ lệ thay thế 15–20% là vùng tối ưu cho dầm BTCT B20. Ở mức 20%, cường độ chịu nén ở 28 ngày không suy giảm so với mẫu đối chứng, trong khi khả năng chịu uốn và quan hệ tải trọng – chuyển vị vẫn tương đương. Vượt quá 40%, cả cường độ lẫn độ cứng của dầm đều giảm đáng kể.
3. Bê tông có tro bay có đạt yêu cầu về khả năng chịu cắt không?
Theo tính toán lý thuyết TCVN 5574-2018, tất cả 5 tổ mẫu (kể cả mẫu đối chứng B20-0) đều không đảm bảo khả năng chịu cắt thuần túy. Điều này cho thấy đây là đặc điểm cơ bản của tiết diện dầm thí nghiệm (100×150 mm), không phải do tro bay gây ra. Trong thực tế thiết kế, cần bố trí cốt thép đai đủ theo tiêu chuẩn để đảm bảo khả năng chịu cắt.
4. Sử dụng tro bay có giúp tiết kiệm chi phí xây dựng không?
Tro bay thay thế 15–20% xi măng giúp giảm trực tiếp chi phí vật liệu theo tỉ lệ tương ứng, bởi giá tro bay thấp hơn xi măng đáng kể. Ngoài ra, nhờ tính pozzolan cải thiện độ bền dài hạn của bê tông, chi phí bảo trì và sửa chữa công trình về lâu dài cũng giảm. Trên quy mô quốc gia, tiêu thụ tro bay làm giảm chi phí xử lý bãi thải, hiện ước tính còn hơn 47 triệu tấn tồn đọng.
5. Tro bay loại F và C khác nhau thế nào khi dùng trong bê tông cốt thép?
Theo TCVN 10302-2014, tro loại F (tro axit) có hàm lượng CaO ≤ 10%, trong khi tro loại C (tro bazơ) có CaO > 10%. Tro bay sử dụng trong luận văn thuộc loại F với CaO chỉ 0,70% — phù hợp để dùng cho cấu kiện BTCT (nhóm a) theo tiêu chuẩn. Tro loại C có tính kết dính tốt hơn nhờ CaO cao nhưng cần kiểm soát chặt hàm lượng CaO tự do (≤ 2%) để tránh gây nở thể tích không mong muốn.
Kết luận
Luận văn đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm có giá trị về việc ứng dụng tro bay trong dầm BTCT cấp độ bền B20, với những đóng góp chính sau:
- Xác nhận tỉ lệ tối ưu 15–20%: Dầm BTCT B20 sử dụng 15–20% tro bay thay thế xi măng đạt khả năng chịu uốn tương đương mẫu đối chứng ở 28 ngày tuổi, với lực tới hạn dao động từ 49,11–49,31 kN.
- Cung cấp dữ liệu quan hệ tải trọng – chuyển vị cho 5 tổ hợp mẫu thực nghiệm, là cơ sở hiệu chỉnh mô hình tính toán trong thiết kế kết cấu.
- Chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu: Cần tiếp tục khảo sát ảnh hưởng dài hạn (56, 90 ngày) của tro bay và mở rộng sang cấp độ bền B25, B30.
- Góp phần giải quyết bài toán môi trường: Ứng dụng 15–20% tro bay trong bê tông giúp tiêu thụ nguồn phát thải 10+ triệu tấn/năm, thực hiện mục tiêu Quyết định 452/QĐ-TTg.
- Bước tiếp theo cần thực hiện: Trong 6–12 tháng tới, cần triển khai thực nghiệm ở tuổi mẫu 56 và 90 ngày, đồng thời thử nghiệm ứng dụng trên công trình thực tế quy mô nhỏ tại khu vực miền Trung.
Luận văn này là tài liệu tham khảo thiết thực cho các kỹ sư, nhà nghiên cứu và nhà hoạch định chính sách muốn hiện thực hóa mục tiêu xây dựng xanh — giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao chất lượng công trình bê tông cốt thép tại Việt Nam.