CHƯƠNG I. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển kinh tế của nước ta trong những năm gần đây là mức sống ngày càng tăng, kéo theo sự gia tăng nhu cầu về điều kiện sống. Trong đó nhu cầu về ăn uống thường được đề cao hơn cả. Xã hội càng phát triển thì nhịp sống càng trở nên hối hả hơn.
Với tốc độ làm việc như hiện nay thì yếu tố thời gian rất được chú trọng. Mà quỹ đạo thời gian chỉ có 24h/ngày, vì thế việc sử dụng quỹ thời gian của mình sao cho hợp lý là rất cần thiết, trong đó phải nói đến bữa ăn hàng ngày trong khi làm việc. Ngoài việc thức ăn phải ngon, đầy đủ dinh dưỡng thì đòi hỏi là phải tốn ít thời gian. Chính vì lẽ đó, các cửa hàng thức ăn nhanh đua nhau xuất hiện và ngày càng được mở rộng.
Tuy nhiên, vì lý do chủ quan hoặc khách quan mà một bộ phận không nhỏ các nhà hàng chưa thực sự quan tâm đến vấn đề xử lý nước thải để bảo vệ môi trường, từ đó đẫn đến nhiều hậu quả như ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, gây ô nhiễm môi trường và quan trọng nhất là ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người. Từ sau khi hòa bình được lặp lại trên thế giới, mức sống của con người ngày càng được nâng cao, kèm theo đó, các nhu cầu sống cũng được gia tăng một cách nhanh chóng. Theo như tháp nhu cầu của Maslow, thì ăn uống là nhu cầu được đề cao ở tầng thứ nhất. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, chúng ta sẽ làm được những gì với 24 giờ đồng hồ ít ỏi.
Xét về những người làm việc ngoài xã hội, thì quỹ thời gian của họ phần lớn là dành cho công việc. Ngày nay, các chuỗi cửa hàng thức ăn nhanh đã giải đáp cho câu hỏi đó. Số lượng cửa hàng thức ăn nhanh gia tăng đáng kể. Không chỉ ở thành thị mà cả ở nông thôn cũng thế.
Tuy nhiên khi vấn đề trên được giải quyết. Song, vì một lý do nào đó mà không ít bộ phận các cửa hàng chưa quan tâm đến vấn đề xử lý nước thải để bảo vệ môi trường. Từ đó gây ảnh hưởng đến môi trường sống xung quanh ta và đặc biệt nghiêm trọng đến sức khoẻ con người ở hiện tại và cả thế hệ mai sau. Với đề tài “Ứng dụng màng MBR vào công nghệ hiếu khí để khảo sát hiệu quả xử lý BOD5, COD, Amoni và TSS trong nước thải cửa hàng thức ăn nhanh”, đề tài sẽ cho thấy một cái nhìn tổng quát về nước thải cửa hàng thức ăn nhanh và việc Trang 1 ứng dụng, hỗ trợ của màng MBR trong việc xử lý thành phần ô nhiễm có trong nước thải, từ đó xây dựng được mô hình công nghệ MBR đầu tiên ở Trường Đại học Thủ Dầu Một.
Cách tiếp cận 1. Nghiên cứu trong nước Lê Quang Huy, 2006. Ứng dụng bể sinh học màng MBR kết hợp quá trình khử Nitrit để xử lý Amôniac nồng độ cao trong nước rác cũ. Mục đích là xử lý nitơ ammonia trong nước rỉ rác của bãi rác cũ với nồng độ nitơ amôniac khoảng 1000mg/L bằng biện pháp sinh học.
Nghiên cứu tập trung vào quá trình nitrat hóa bán phần bằng mô hình bể phản ứng sinh học màng MBR và quá trình khử nitrit bằng mô hình Anoxic khử nitrit, quá trình tách khí amoniac với việc xác định pH tối ưu, thời gian làm thoáng tối ưu và lưu lượng khí thổi làm thoáng tối ưu nhằm so sánh với hiệu quả đạt được từ quá trình sinh học. Từ kết quả nghiên cứu được và đề ra mô hình ứng dụng phù hợp cho nước thải rỉ rác [1]. Đặng Thiên Hưng và cộng sự, 2012. Ứng dụng MBR màng phẳng cho quá trình Nitrat hóa bán phần xử lý nước thải chăn nuôi.
Nghiên cứu theo dõi đánh giá các thông số thiết kế gồm xác định HRT và tải trọng Nitơ phù hợp, theo dõi hiệu quả khử COD và diễn biến thành phần Nitơ trong nước thải. Kiểm soát các thông số vận hành bao gồm, độ kiềm, pH và DO. Từ nghiên cứu đề ra quy trình phù hợp cho xử lý nước thải chăn nuôi [2]. Lê Nguyễn Tuyết Nguyên, 2012.
“Ứng dụng công nghệ màng sinh học có giá thể xử lý nước thải ao nuôi cá tra”. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ màng sinh học có giá thể xử lý nước thải ao nuôi cá tra, nhằm mục đích khảo sát khả năng xử lý chất hữu cơ và các hợp chất của Nitơ có trong nước thải ao nuôi cá tra với mô hình pilot gồm MBR nhúng chìm kết hợp giá thể lơ lửng dạng sponge chiếm 20% thể tích bể phản ứng gọi là spong MBR. Từ kết quả nghiên cứu được và đề ra mô hình ứng dụng phù hợp cho nước thải của ao nuôi cá. TN < 14mg/L, TP < 4mg/L đáp ứng được QCVN 24:2009/BTNMT, loại A.
Ở các mức tải trọng cao hơn, TN < 14mg/L đạt loại A theo tiêu chuẩn trên, TP < 14mg/L đạt loại A theo tiêu chuẩn trên, TP < 5mg/L đạt loại B theo tiêu chuẩn như trên, COD đạt hiệu quả xử lý trung bình đến 92% [3]. Trang 2 Võ Đình Quang, Đặng Ngọc Diện, Trần Thị Kim Xanh, 2016. “ Nghiên cứu xử lý nước thải chợ Sơn Kỳ”. Bài nghiên cứu trình bày kết quả nghiên cứu xử lý nước thải chợ bằng công nghệ MBR quy mô nghiên cứu phòng thí nghiệm, với 3 tải trọng: 1 kgCOD/m3.
Kết quả cho thấy khả năng xử lý nước thải thủy sản của mô hình MBR tốt với hiệu quả xử lý cao nhất ở tải trọng 1,5 kgCOD/m3.ngày, cụ thể như sau: COD 90%; N-NH4+ 97%; hiệu suất chuyển hóa Nitrat đạt 98% đạt cột B QCVN 14:2008/BTNMT [4]. Nghiên cứu ngoài nước Visvanathan và cộng sự (2000). “Membrane separation bioreactor for wastewater treatment”. Nghiên cứu này trọng tâm là đánh giá công nghệ màng MBR có nhiều ưu điểm hơn so với bùn hoạt tính thông thường.
Ưu điểm vượt trội của MBR là chất lượng nước thải sau xử lý rất cao có thể tái sử dụng nước thải, diện tích hệ thống xử lý nhỏ gọn, thời gian lưu bùn dài, lượng bùn sinh ra thấp và vận hành linh hoạt [5]. Basu và Huck (2005). “Impact of support media in an integrated biofiltersubmerged membrane system”. Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể trong hệ thống MBR nhúng chìm.
Nghiên cứu tập trung đánh giá tốc độ bẩn màng và chất lượng nước thải sau khi qua màng. Kết quả là tốc độ bẩn màng tăng gấp đôi khi không có các giá thể trong bể. Tác giả cũng cho rằng các giá thể này tăng cường cọ rửa bề mặt màng và giúp tăng trưởng các màng sinh học trên các giá thể, cải thiện hiệu quả xử lý của hệ thống MBR [6]. Luostarinen S, Luste S, Valentín L, Rintala J.
“Nitrogen removal from onsite treat anaerobic effuents using intermittently aerated moving bed biofilm reactors at low temperature”. MBR loại bỏ 50 - 60% Nitơ và 40 - 70% tổng số COD (CODt). Sự kết hợp của UASB – bể tự hoại và MBR loại bỏ hơn 92% CODt, 99% nhu cầu oxy sinh học (BOD7) và 65 - 70% Nitơ [7]. Jamal Khan và cộng sự (2011).
“Performance of suspended and sponge MBR systems in treating high strength synthetic wastewater”. Nghiên cứu này so sánh hiệu quả xử lý của MBR với sponge MBR. Kết quả cho thấy rằng hiệu quả loại bỏ các TN và TP trong sponge MBR là 89% và 58% cao hơn trong MBR thông thường. Từ kết quả trên suy ra rằng sự hiện diện của giá thể giúp sinh khối phát triển phức tạp bên trong các giá thể sponge trong bể MBR, giúp cải thiện khả năng xử lý TN và TP trong nước thải [8].
Trang 3 Như vậy, kết quả của những nghiên cứu trên cho thấy có thể nâng cao hiệu quả xử lý nước thải của màng lọc sinh học MBR bằng việc bổ sung thêm vi sinh vật, nhờ có thời gian lưu nước ngắn và thời gian lưu bùn dài nên lượng sinh khối sẽ được gia tăng, làm quá trình phân hủy sinh học diễn ra nhanh chóng với hiệu suất xử lý cao. Trên những cơ sở đó, nhóm đưa ra ý tưởng kết hợp vi sinh vật vào mô hình màng lọc sinh học hiếu khí nhằm khảo sát hiệu quả xử lý nước thải ở các mức tải trọng khác nhau. Mục tiêu đề tài Đánh giá chất lượng nước đầu vào, đầu ra. Lắp đặt mô hình xử lý nước thải bằng màng MBR.
Phân tích đánh giá hiệu quả xử lý. Kết luận: Đưa ra mô hình Công nghệ xử lý tối ưu và hiệu quả. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Nước thải của cửa hàng thức ăn nhanh tại địa bàn Tp.
Thủ Dầu Một. Bùn hoạt tính. Màng lọc MBR. Các thông số nước thải: pH, BOD5, COD, TSS, Amoni.
Phạm vi nghiên cứu Nước thải của cửa hàng thức ăn nhanh trên địa bàn Tp. Thủ Dầu Một. Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm thực nghiệm Trường Đại học Thủ Dầu Một. Quy mô thực hiện: 5 – 10L/h Thời gian thực hiện: 6 tháng.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Từ mô hình nghiên cứu có thể lắp đặt mô hình thực tế, áp dụng cho từng cửa hàng khác nhau trên địa bàn Tp. Thủ Dầu Một. Trang 4 Với mô hình nghiên cứu có thể thay thế cho một số loại mô hình xử lý nước thải cũ.
Thuận tiện cho việc nâng cấp hệ thống xử lý nước thải ở các cửa hàng. Ứng dụng trên nhiều loại nước thải khác nhau (Lò giết mổ, sản xuất phân bón, chăn nuôi,. Ý nghĩa thực tiễn Lần đầu tiên, mô hình xử lý nước thải được tiến hành nghiên cứu tại Trường Đại học Thủ Dầu Một. Áp dụng mô hình xử lý trên địa bàn Tp.
Thủ Dầu Một. Phương pháp nghiên cứu 1. Phương pháp thống kê, xử lý số liệu Sử dụng phương pháp bình phương cực tiểu là một phương pháp tối ưu hóa để lựa chọn một đường khớp nhất cho một dãy số liệu ứng với cực trị của tổng các sai số thống kê giữa đường khớp và số liệu. Cách thiết lập: tiến hành khảo sát với các cốc, các thông số như pH, lượng hóa chất cho vào, thời gian lưu nước… Đem các cốc đi xác định các thông số cần xác định.
Từ các giá trị đó, ta có phương trình đồ thị tuyến tính. Phương pháp đồ thị Thực hiện khái quát thí nghiệm theo các quan hệ tương quan để so sánh kết quả, kết hợp quá trình thực nghiệm chính xác và thuyết phục. Phương pháp tổng quan tài liệu Tham khảo các tài liệu trong nước và ngoài nước: các bài báo khoa học, nghiên cứu liên quan đến đề tài.