Đặt vấn đề x Hiện nay, việc nuôi tôm trong môi trường nước lợ ở Việt Nam yếu tập trung vào tôm thẻ chân trắng (Jopenaeus vannamei) và i (Penaeus monođøn). Hai loài tôm này đóng vai trò quan trọng không 2 chién luoc phat trién nganh thuy san ma con dong gop vao ting troy ế của đất nước [6]. Đặc biệt, tôm thẻ chân trắng đã được xác định là nuôi chủ lực từ năm 2018, nhằm tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tănŠ cốc, và có khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và quốc tế. Mục tiêu là ox trị xuất khẩu tối thiểu 100 triệu USD/năm [167].
`, Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Kez. nông thôn (2017) [162], ngành công nghiệp tôm nuôi đang đứng trước hiều thách thức trong đó dịch bệnh như: bệnh virus đốm trắng TẾ nhu virus - WSSV), virus đầu vàng (Yellow head virus - YHV), va d& ét 1a bénh do nhém vi khuan Vibrio trên tôm nuôi gây thiệt hại nghiêm eo? ca nang suat va hiéu qua kinh té cho nguoi nudi. Vibrio parahaemolyticus lợc xác định là tác nhân chính gây bệnh hoại tử gan tụy cấp (Acute he; fatofiancreatic Necrosis Disease - AHPND) hay còn gọi là Hội chứng chêt s Early Mortality Syndrome - EMS), bénh này một trong những nguyên nhâ chết hàng loạt đối với tôm nuôi dưới 30 ngày tuổi, và đây cũng là thá: lớn nhất cho nghề nuôi tôm hiện nay trên thế giới và Việt Nam [140]. Bệ PND xuất hiện lần đầu tiên tại Trung Quốc (2009), Việt Nam (2010), nước khác nhưn‡ [110].
Trude day vi khuẩn gây rấếtrê không mon như: gia tăng các chủng vi sinh vật kháng kháng sinh, gay 6 nhiễm Nnn nước và đất, tồn dư kháng sinh có thể gây ra van đề về an toàn VE sil phẩm, gây nguy cơ cho sức khỏe của con người [153]. Đồng thời, cảnh Việt Nam đã cam kết hướng đến việc loại bỏ kháng sinh khỏi và thuỷ sản từ năm 2022 của Liên minh châu Âu [124], [162]. Vì vậy, việc Noi dụng các chất sinh học đáp ứng yêu cầu vệ sinh thực phẩm, an toàn cho người sử dụng trong phòng và trị bệnh cho tôm nuôi là một yêu cầu cấp thiết. Hệ miễn dịch của giáp xác nói chung và tôm nói riêng chỉ có miễn dịch tự nhiên (hay còn gọi là miễn dịch bẩm sinh, miễn dịch không đặc hiệu) bạo.gề miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể tạo ra phản ứng phòng vệ @ ho nhiều loại mầm bệnh [110].
Theo nghiên cứu của Xu và cs (2010) i co tác nhân gây bệnh xâm nhập, các phân tử thụ thé trong hệ thống ch của tôm thẻ chân trắng sẽ nhận điện với nhiều loại phân tử của mam h khac nhau như lipopolysaccharide (LPS) của màng tế bào vi khuẩn đường của màng tế bào virus và kích hoạt phản ứng tiêu diệt tác Lectin là một nhóm protein có thể gắn kết với glycopro “Mc glycolipid trén bề mặt vi sinh vật nên được xem là thành phần quai ta hệ thống miễn dịch tự nhiên của động vật giúp quá trình nhận diệ loại bỏ các vi sinh vật, hoặc các protein lạ hòa tan trong hệ thống tuần feàn [156]. Trong đó, C-type lectin (CTL) là nhóm lectin được nghiên cứu Grin nhiều nhất trong việc tăng cường hoạt động ngưng kết và tiêu digs vật cho giáp xác trong điều kién in vitro [95]. CTL dugc xem như, chất kícÄ thích miễn dịch kích hoạt hệ thông bô thê của tôm trong quá trình ops: oá và thực bào tác nhân gây bệnh nhằm thay thế việc sử dụng kháng sĩ oy an toan vé sinh thuc pham cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, việc ves) cứu chiết xuất lectin từ thực vật hay động vật cho sinh khối nhỏ, giá-thành cao nên chỉ mới được ứng dụng trong y học, chưa đáp ứng được nhu hobs phòng trị bệnh cho vật nuôi.
Năm 2020, Nguyễn Thị Phương Thảo vỗ csŸ(2020) [22], đã ứng dụng kỹ thuật gene và sử dung protein LvDLdIrCTL tát Tổ hợp có thẻ giúp tăng cường biểu hiện CTL, và được xem có tiềm năng ú lung trong hỗ trợ điều tri AHPND do vi khuẩn /. parahaemolyticus ga i vậy, nghiên cứu sử dụng protein tái tổ hợp từ vi sinh vật nhằm tạ phẩm đáp ứng nhu cầu phòng và trị bệnh cho động vật nói chung và độ thuỷ sản nói riêng, đặc biệt là ứng dụng hỗ trợ trong điều trị bệnh trên ‡ chân trắng là nhóm động vật bậc thấp, chỉ có hệ thống miễn dich tự nhỉ ng có khả năng ghi nhớ là vấn đề cấp thiết hiện nay. Do đó, luận án đượế thực hiện với tên đề tài: “Nghiên cứu tạo C-type lectin tái tổ hợp eee trong phòng trị bệnh hoại tử gan tụy cap (Acute Hefiatopancreatic Necrosis Disease - AHPND) trén tém thé chan trang ( ews wannammei)” với các mục tiêu như sau: Mặc tiêu nghiên cứu `« 1. Mục tiêu chung AS Nham tao protein tdi t6 hop tir gene LvCTL3 ma hoa protein LvCTL3 phan lập từ tôm thẻ chân trắng, và thử nghiệm sử dụng protein tái tổ hợp nay làm chất bổ sung vào thức ăn giúp tăng cường khả năng đáp ứng miễn dịch và khả năng kháng bệnh AHPND trên tôm thẻ chân trắng.
Mục tiêu cụ thể a - Xác định được tác nhân chính gây bệnh AHPND trên tôm t trắng có mang gene độc tố i4” và piB” để sử dụng cho các nghiên cứữ*&ác định hoạt tính của protein LvCTL3 tái tô hợp lên khả năng gây bệnh giÌp của tác nhân này trong diéu kién in vitro va in vivo. 4 - Xác định được cơ quan có mức độ phiên mã mồ v CTT.3 cao nhất trên tôm thẻ chân trắng nhiễm bệnh và không nhiễ 6sgh AHPND; - Điều chế được protein LvCTL3 tai té hop cd ho’t tinh ngung két manh với vi khuan V. parahaemolyticus; + - Đánh giá được vai trò của protein LvC Ke tô hợp lên các chỉ tiêu miễn dịch của tôm thẻ chân trắng cũng như khả rănŸ*kháng bệnh AHPND trong điều kién in vivo. Ý nghĩa của luận án ‹ 3.
Ý nghĩa khoa học © 4 Nghiên cứu đã thành công lg viéc img dung céng nghé DNA tai t6 hợp để tạo ra protein tái tổ hợp hé chân trắng thông qua việc biểu hiện các gene mã hóa CTL trong vi an E. coli, tong hop protein tai t6 hợp và xác định cầu trúc không gian của. Là nghiên cứu đã “ đánh giá đầy đủ chức năng protein tái tổ hợp trong cả hai điều kiện #„„wú và in vivo, và thử nghiệm sử dụng protein tái tổ hợp như chất kích thích ch bổ sung vào thức ăn cho tôm. Kết quả cling cap cơ sở khoa học quan trọng về vai trò của LvCTL3 tái tô hợp dénhoatdéng đáp ứng miễn dịch tự nhiên của tôm thẻ chân trắng và kha năng phòng bệnh AHPND do vi khuẩn Ƒ.
parahaemolyficus gây ra, làm nền tang cho nghiên cứu tiếp theo về ứng dụng protein LvCTL23 tái tổ hợp trong miện Sen AHPND trên tôm thẻ chân trắng nói riêng và các tác nhân vi sinh vatkhae gay ra trén tom nudi tai Việt Nam. A nghia thực tiễn oC Hiệu quả bước đầu của protein LvCTL3 tái tổ hợp bồ sung vào thức ăn đã AS tăng cường đáp ứng miễn dịch và kháng bệnh AHPND do vi khuẩn /. parahaemolyticus trên tôm thẻ chân trắng. Điều này cho thấy tính khả thi của việc ứng dụng LvCTL3 tái tổ hợp trong phòng và trị bệnh do vi khuẩn V“ parahaemolyticus, huéng dén không dùng kháng sinh trong nuôi tôm.
Những đóng góp mới của luận án Công bố đầu tiên tại Việt Nam trong việc phân lập, tạo dòng & như xác định mức độ phiên mã gene LvC7L3 mã hóa protein LVCTL3 đừ cäð cơ quan khác nhau ở tôm thẻ chân trắng nhiễm bệnh và không nhiễm bàn ẢhvD, Kết quả đã điều chế được protein LVCTL3 tái tổhợp tiyigdbigu hiện gene LvCTL3 6 vat chu E. 4 Đây cũng là lần đầu tiên tại Ví iC nghiên cứu thử nghiệm protein LvCTL3 tái tổ hợp như là chất kg igh miễn dịch trong việc nâng cao khả năng đáp ứng miễn dịch tựnhiện và ø bệnh AHPND trên tôm thẻ chân trắng thông qua thức ăn. TỎNG QUAN CÁC VÁN ĐÈ NGHIÊN CỨU = % 1. Tổng quan về tôm thé chân trắng Ve 1.
Sơ lược về tôm thẻ chân trắng © Tôm thẻ chân trắng là loài tôm nhiệt đới, ở những khu weg độ nước thường >20°C quanh năm. Tôm có nguồn gốc từ vùng biển xfeh ạo Đông Thái Bình Dương (biển phía Tây Mỹ La tỉnh), phân bố chủ vied bién Tay Thai Bình Dương, châu Mỹ, từ ven biển Mexico đến miền eru, nhiều nhất ở biển gần Ecuador. Hiện nay tôm thẻ chân trắng đã dyfoe“di giéng ở nhiều nước Đông Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Thái Lầ%, P Philippin, Indonesia, Malaysia và Việt Nam [S3]. i Tôm thẻ chân trắng có tên khoa học Li Qa.
Tuy nhiên, đến nay nhiều tài liệu vẫn chưa thống nhất tên ` học của tôm thẻ chân trắng nên vẫn được sử dụng đồng thời là Looney namei hoac Penaeus vannamei [56]. Năm 1997, dựa vào đặc tinh co q inh duc cai 6 tom thé chân trang có thelyeum hở khác với các loà chi Penaeus, Peréz-Farfante va Kensley [112], đã sắp xếp 5 loài P, enaeus) vannamei (Boone, 1931), P.) schmitti (Burkenroad, 1936) vào giéng Litopenaeus. Tuy nhiên, sau khi pharktich’da dạng đi truyền từ gene COXI ở ty thể, Katneni và cs (2021) [7§] đã ién cac loai tom thudc hai chi Litopenaeus va Penaeus có chỉ số Avera 0 Acid Identity (AAI) giống nhau đến 93,4% và đã dé nghị khôi phụ háp Penaeus cho các loài thuộc Li/openaeus. Hiện nay, các tổ chức ại động vật trên thế giới như GBIF [60], NCBI [105] hay WoRMS [1 u sử dụng danh pháp Penaeus vannamei, trong khi đó ITIS [70].
vẫn su ng danh phap Litopenaeus vannamei. Vi vay, xuyén suốt luận án này sẽ thổầg nhất tên khoa học của tôm thé chan trang 1a Litopenaeus vannamei. lặc điểm hình thái bên ngoài, vỏ tôm thẻ chân trắng mỏng, và có màu trắng 3 để nên có tên gọi khác là tôm bạc, bình thường có màu xanh lam, chân bò ó màu trăng ngà nên gọi tôm thẻ chân trăng (Hình I. Trong tự nhiên, kích - ha.
tôm cái thường lớn hơn tôm đực, và có thể đạt chiều dài tối đa đến 23 cm Tw 2]. Theo FAO (2009) [53], tom thẻ chân trắng trưởng thành sau 6-7 tháng, khi khối lượng đạt từ 20 g ở cá thé duc và từ 28 g ở cá thẻ cái. Tôm thẻ chân trắng có khối lượng từ 30-45 g có khả năng sinh sản từ 100.000 trứng, đường kính trứng khoảng 0,22 mm. Tôm thẻ chân trắng (Lito a US fe Trân Vinh Phương, 20237 1.
Tình hình nuôi và sản lượng tôm thẻ trắng trên thế giới Năm 2020, nuôi tôm là ngành thủy sả thứ ba thế giới về sản lượng đạt 11,2 triệu tắn và đứng thứ hai về va h Tất khẩu đạt 81,5 ty USD [55].