Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu học, lý học, sức khỏe, an toàn cho người lao động và chất lượng môi trường (APEC, 2006) [45], [52], [65], [75]. Yếu tố nông nghiệp/ Chất lượng cuộc sống Văn hóa Bảo vệ an toàn Dân số Sự tự do Giá trị văn hóa Xã hội/ văn hóa Quy trình hợp tác Sức khỏe Trao quyền Nguồn lực con người Bền vững Yếu tố môi trường Hệ sinh thái sức khỏe Thành phần kinh tế Môi trường Chất lượng phi sinh học Sản xuất công nghiệp Tài nguyên thiên nhiên Sản xuất dịch vụ Kinh tế Sự ô nhiễm Cơ sở hạ tầng Hình 1. Mô hình cơ bản của phát triển bền vững Đối với EUREPGAP, là một tiêu chuẩn chung cho hoạt động quản lý trang trại được phát minh vào 1990 bởi những chuỗi siêu thị ở Châu Âu và các nhà cung cấp chính của họ.
Mục đích của tiêu chuẩn này là để mang lại một tiêu chuẩn chuẩn cho các nhà cung cấp khác nhau. Hiện nay, phần lớn các khách hàng nông nghiệp của Châu Âu đều được yêu cầu có bằng chứng nhận EUREPGAP như một điều kiện tiên quyết để giao thương [45]. EUREPGAP đã được phát triển bằng cách sử dụng hướng dẫn phân tích và kiểm soát an toàn của Tổ chức Lương Nông Liên Hợp Quốc, được quản lý theo tiêu chuẩn ISO (Guide 65) cho các chương trình xác nhận tiêu chuẩn. Để mở rộng thị trường thế giới, tháng 9/2007, EUREPGAP đổi tên thành GLOBALG.org/wiki/GlobalGAP).
Tổng quan các nghiên cứu Năm 2007, FAO phổ biến tài liệu hướng dẫn Thực hành nông nghiệp tốt rất chi tiết áp dụng cho quy mô gia đình, hướng dẫn các hệ thống sản xuất hướng đến nền nông nghiệp phát triển bền vững và an toàn về mặt sinh thái, có được những sản phẩm an toàn với chất lượng cao hơn, giúp từng hộ phát triển quy trình sản xuất ở quy mô nhỏ [52]. Khái niệm GAP và GMP là bộ những nguyên tắc, quy định và khuyến nghị kỹ thuật áp dụng cho sản xuất, chế biến và vận chuyển sản phẩm, giải quyết vấn đề chăm sóc sức khỏe con người, bảo vệ môi trường và cải thiện sức khỏe người lao động và gia đình làm nông nghiệp [28]. FAO chỉ ra 4 yếu tố quan trọng cần phải đảm bảo: môi trường, nguồn thải động vật, an toàn thực phẩm và bảo vệ con người. Trong đó, nguồn đầu vào quan trọng nhất là môi trường liên quan không bị ô nhiễm đất, ô nhiễm nước; xử lý hóa chất hợp lý, đa dạng sinh học.
Cây trồng được lựa chọn nơi thích hợp nhất dựa trên sự hiểu biết nguồn gốc khu đất, độ phì nhiêu của đất, không là nơi gây nhiễm chất hóa học, những rủi ro nguồn nước, phân tích mẫu đất, độ sâu tầng canh tác, v.v…[70] Ở Ấn Độ, nông nghiệp là trụ cột nền kinh tế và sức mạnh cơ bản nằm trong lĩnh vực nông nghiệp. GAP là một trong những cải cách đột phá để thúc đẩy sản phẩm nông nghiệp vươn ra thế giới. Tiêu chuẩn INDGAP ban hành không chỉ kiểm soát về chất lượng và số lượng sản phẩm thu được trên một đơn vị diện tích mà còn phải tích hợp các điều kiện hoạt động phù hợp như quản lý đất và nước; quản lý dinh dưỡng và dịch hại; thu hoạch, xử lý và hậu kiểm. Ngoài ra, kiểm soát quy trình trồng và chăm sóc hoa, thực phẩm, trái cây, rau quả … để đảm bảo phát triển bền vững.
Tiêu chuẩn đã xây dựng trên các đối tượng cây trồng như rau và quả tươi, trà và cà phê tươi. Ngoài ra, GAP quy định cụ thể đối với từng đối tượng cây trồng cụ thể để giám sát các yếu tố gây ô nhiễm tiềm tàng. Chẳng hạn như, các loại sản phẩm thuộc về gia vị và thảo dược, ngăn chặn các chất ô nhiễm đi vào thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, lưu trữ: độc tố Mycotoxin, các kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ 9 Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu thực vật, các chất gây dị ứng, chất tạo màu đều phải được kiểm soát ở ngưỡng chấp nhận theo quy định.
GAP bao gồm những biện pháp an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, đất đai, sức khỏe và an toàn của người trồng trọt, người tiêu dùng [70]. Vì vậy, GAP rất quan trọng cả về chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ thực phẩm an toàn. GAP tạo niềm tin cho người tiêu dùng sẽ tăng nhu cầu và giá cả sản phẩm. GAP và GLOBALGAP có các yêu cầu điều kiện cơ bản là giống nhau mặc dù chức năng khác nhau.
Tại Thái Lan, dựa trên tài liệu của Mankeb và cộng sự (2009), Bộ Nông nghiệp và Hợp tác Thái Lan (MOAC) đã thực hiện các chương trình GAP của cây lương thực là bước đầu tiên hướng tới an toàn thực phẩm và tạo thuận lợi thương mại. GAP được xây dựng dựa trên nền tảng FAO GAP để áp dụng trong sản xuất nông nghiệp đáp ứng với chất lượng và an toàn thực phẩm quốc tế. Thái Lan đã phát triển chương trình Thực hành Nông nghiệp Tốt Quốc gia, trong đó nhấn mạnh đến an toàn sản phẩm là một phần của chính sách an toàn thực phẩm và giới thiệu đến từng trang trại [75]. Hệ thống QGAP hình thành và phát triển từ năm 2002 đến nay và không ngừng hoàn thiện.
QGAP áp dụng mạnh trong mô hình trang trại với 4 thành phần chính: đất đai, lao động, vốn và quan trọng nhất là quản lý [64]. Các tiêu chí đánh giá thông thường là lựa chọn vùng trồng thích hợp (chú ý luân canh), quản lý đất, nhu cầu dinh dưỡng thực vật, kiểm soát dịch bệnh, dịch hại, quản lý nguồn nước và tưới tiêu, phương pháp thu hoạch, xử lý và bảo quản. Để đảm bảo an toàn và vệ sinh thực phẩm, Cục Chăn nuôi Thái Lan đã đưa ra mô hình ứng dụng GIS và hệ thống quản lý thông tin (MIS) để kiểm soát dịch bệnh, đáp ứng điều kiện GAP tại Thái Lan. Các đối tượng thông tin khảo sát bao gồm đường xá, kinh tế, số liệu định vị, mật độ và dữ liệu xã hội [64].
Tổng quan các nghiên cứu Như vậy, khái niệm chung về GAP là quy trình, công nghệ sản xuất tiên tiến của sản xuất nông nghiệp. Trong đó, sản xuất phải theo quy trình kỹ thuật để đạt năng suất cao, chất lượng tốt và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, sản xuất trong môi trường không ô nhiễm. Về phương pháp, hầu hết tiêu chuẩn GAP từ các nước đều cập nhật và bổ sung từ FAO GAP hoặc GLOBALG.P nên có điểm tương tự nhau và khác biệt nhau quy định chỉ tiêu kiểm tra. Một sản phẩm trồng trọt yêu cầu cần phải được đánh giá các yếu tố liên quan để xác định vị trí thích hợp, điều kiện môi trường không bị ô nhiễm.
Tuy nhiên, để giải đáp những vấn đề trên, cách thực hiện thông thường nhất để đánh giá chủ yếu là phỏng vấn dựa trên danh sách bảng câu hỏi nên vẫn định tính. Trong nước Sau khi gia nhập WTO, ngành xuất khẩu Việt Nam đã có nhiều thay đổi tích cực nhưng lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam ra nước ngoài chưa được như kỳ vọng. Một phần nguyên nhân chính là hàng hóa của chúng ta vấp phải các quy định về tiêu chuẩn hàng hóa rất khắt khe của các nước nhập khẩu. Hiện nay, thị trường xuất nhập khẩu nông sản, thủy sản, thực phẩm trên thế giới đang được kiểm soát bởi những tiêu chuẩn rất cao về chất lượng sản phẩm cũng như vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nắm bắt được những khó khăn trên, từ năm 2006, ASEAN đã công bố bản quy trình GAP chung cho các nước thành viên. FAO phổ biến kiến thức về GAP vào năm 2007 đến toàn thể các quốc gia trên thế giới [52]. Tháng 01/2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành tiêu chuẩn riêng của Việt Nam có tên viết tắt là VietGAP. VietGAP gồm những yêu cầu chung trong sản xuất, sơ chế sản phẩm trồng trọt để: bảo đảm an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm; sức khỏe và an toàn lao động đối với người sản xuất; bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm.
Nhiều công trình nghiên cứu để biên soạn tài liệu hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt được ban hành và áp dụng phổ biến. Cơ quan phát triển quốc tế Canada phối hợp với cơ quan Bộ NN&PTNT tài trợ Dự án “Xây dựng và Kiểm soát chất 11 Chương 1. Tổng quan các nghiên cứu lượng nông sản thực phẩm” và đã ban hành “Sổ tay hướng dẫn thực hành VietGAP cho cây ăn quả” (2009), “Sổ tay hướng dẫn VietGAP/GMPs cho chuỗi sản xuất kinh doanh rau quả tươi (2013) [28]. Bộ NN&PTNT đã ban hành “Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả và chè an toàn” (2008), “Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi tại Việt Nam” (2008), “Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho lúa” (2010), “Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho cà phê” (2010).
Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư tỉnh Đồng Tháp ban hành tài liệu “Kỹ thuật trồng xoài theo VietGAP” (2009) [40], Trung tâm Kỹ thuật và công nghệ sinh học (thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tiền Giang) đã ban hành tài liệu hướng dẫn “Nông hộ trồng lúa thực hành GlobalG.P” [41], “Nông hộ trồng rau quả thực hành GlobalG. Tất cả các tài liệu được biên soạn trên cơ sở có tham chiếu Quy định của Bộ NN&PTNT nhưng cụ thể hóa cho từng vùng, địa phương cụ thể. Năm 2013, Bộ NN&PTNT đã ban hành QCVN 01-132:2013/BNNPTNT đối với rau, quả, chè búp tươi đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, sơ chế. Quy chuẩn đề cập đến điều kiện địa điểm sản xuất, đất canh tác, nguồn nước tưới và các nguồn quản lý dinh dưỡng.
Những thông tin này được quy định rõ trong tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11892-1:2017 [35]. Khu vực canh tác phải được đánh giá lựa chọn khu vực sản xuất, quản lý đất, nước, giá thể và nguồn vật tư đầu vào (Mục 3. Trong đó, việc đánh giá lựa chọn vùng trồng là khâu rất quan trọng và cần thiết, cần quan tâm hàng đầu để về chất lượng và sản phẩm an toàn. Vùng trồng cây có thể chịu ảnh hưởng của nhiều mối nguy như vi sinh vật, thuốc BVTV, kim loại nặng và các chất ô nhiễm từ công nghiệp.
Tuy vậy, đây chính là bước bị hạn chế và dễ dàng bỏ qua nhất do thiếu phương pháp, thiếu chuyên gia trong lĩnh vực ngành để đánh giá nên việc xác định vùng trồng phù hợp còn rất đơn giản, chủ yếu phỏng vấn bằng bảng câu hỏi soạn sẵn nên vẫn mang tính định tính, chưa phân tích về điều kiện thích hợp của cây trồng cụ thể.