Chương 1 TÔNG QUAN 1. Một số bệnh truyền nhiễm trên heo và đặc điểm lây truyền Việt Nam là một trong 5 nước có sản xuất thịt heo lớn nhất thế gidi VỚI Sản lượng hang năm khoảng 2.500 ngàn tan, việc áp dụng khoa học công nghệ và kỹ thuật chăn nuôi ngày cảng được chú trọng. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi heo Việt Nam luôn chịu áp lực trước dịch bệnh rất lớn, hầu như các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đều có sự hiện diện ở các đàn heo như Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp, các hội chứng liên quan PCV2, bệnh tiêu chảy cấp trên heo. và hiện nay là bệnh dich tả heo Châu Phi (ASF).
Sự phát triển mạnh mẽ và toàn cầu hóa của ngành chăn nuôi heo đã góp phần vào sự xuất hiện và lây lan toàn cầu của các tác nhân gây bệnh cho heo, một phần là do sự di chuyên thường xuyên của heo, thức ăn và các sản phẩm từ thịt heo ở quy mô địa phương, quốc gia và quốc tế (Drew, 2011). Các bệnh truyền nhiễm gây ra những thiệt hại trực tiếp cho chăn nuôi như tăng tỷ lệ chết, giảm năng suất, hạn chế thương mại, giảm giá tri thị trường và thường là không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (Dehove, 2012). Bệnh truyền nhiễm là kết quả của sự tương tác các yêu tố bao gồm vật chủ (gia súc, gia cầm), yéu tố gây bệnh (vi rút, vi khuẩn.) và môi trường (không khí, nước,. Bệnh là một vấn đề phức tạp.
Việc phòng chống, kiểm soát bệnh và bệnh truyền nhiễm một cách hiệu quả đòi hỏi thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp với mục tiêu cắt đứt sự tương tác giữa các yếu tổ Môi trường - Vật chủ - Mầm bệnh. Môi trường đem lại cơ hội thứ 2 và là giai đoạn trung gian dé mầm bệnh có thé “sống sót, tồn tại và lan rộng”. Đề kiểm soát được yêu tố này phải thực hiện các biện pháp như vệ sinh, khử trùng dé tiêu điệt mầm bệnh, đồng thời loại bỏ loại bỏ các yếu tố truyền lây. Vật chủ phải được chăn nuôi đúng kỹ thuật, đảm bảo về sức khỏe, sử dụng vaccine phòng bệnh và các biện pháp cách ly, an toàn sinh học.
Mầm bệnh là yếu tố chính, nó có thé sống sót lâu trong các môi trường da dang và nhân lên nhanh chóng ở các vật chủ khác nhau vì vậy cần phải thực hiện các biện pháp để loại bỏ những con heo mắc bệnh, mang trùng. Bệnh Lở mồm long móng Bệnh lở mồm long móng gia súc là bệnh truyền nhiễm ở các loài động vật móng guốc chan, lây lan mạnh, gây ra bởi loài vi rút thuộc họ Picornaviridae, giỗng Aphthovirus. Căn bệnh này được mô tả ban đầu vào thế kỷ 16 và là tác nhân gây bệnh cho động vật đầu tiên được xác định là virus, Sự bùng phát gần đây của bệnh lở mồm long móng ở một số quốc gia không có bệnh lở mồm long móng, đặc biệt là Đài Loan vào năm 1997 và Vương quốc Anh vào năm 2001 (Marvin và Barry 2004). Bệnh gây thiệt hại nặng nề, lâu dai và hạn chế thương mại động vật và sản phẩm động vật gây ảnh hưởng kinh tế toàn cau.
Bệnh truyền lây nhanh, tỷ lệ nhiễm bệnh 100%, bệnh có thé truyền lây trực tiếp hoặc gián tiếp. Lây trực tiếp do tiếp xúc giữa heo khỏe và heo mắc bệnh khi nhốt chung xảy ra qua đường hô hấp bởi vi rút dạng khí dung. Lây gián tiếp qua thức ăn, nước uống, máng ăn, máng uống, nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi, tay chân, quần áo người chăn nuôi bị nhiễm vi rút. Bệnh lây lan từ vùng này sang vùng khác, lây từ nước này sang nước khác qua biên giới theo đường vận chuyên động vật, sản phẩm động vật ở dang tươi sống có mang mam bệnh (kể cả thịt ướp đông, da, xương, sừng, móng, sữa).
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp PRRS là bệnh truyền nhiễm gây ra bởi vi rút PRRS, thuộc họ 4z/eviridae, nhánh Arterivirus, bộ Nidovirales. Hội chứng rồi loạn sinh sản và hô hấp được ghi nhận đầu tiên trên thế giới vào năm 1987 ở Mỹ và lây lan sang Canada một năm sau đó. Virus PRRS được phân lập lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1991 tại viện thú y trung ương của Hà Lan (Pol và cs, 1991). Năm 1992, hội nghi quốc tế về sức khỏe gia súc đã được tô chức thú y thé giới nhất trí và công nhận bệnh bí hiểm này là Hội chứng roi loạn sinh sản và hô hap ở heo.
Năm 1990-1991 bệnh xuất hiện ở các nước Anh, Đức, Hà Lan, Pháp và Tây ban nha. Năm 1992 các nước Châu Á cũng ghi nhận các ca bệnh này. Biến chủng virus PRRS mới là chủng độc lực cao (HP-PRRSV) xảy ra đầu tiên ở Trung Quốc (2006), sau đó lây lan nhanh chóng và gây thiệt hại kinh tế nặng nề cho các nước láng giềng như Việt Nam (2007), Thái Lan (2010), Phillipines (2010), Lao, Campuchia (2010), (Helen và cs, 2009; Zhou va cs, 2010). Virus PRRS tiếp xúc và xâm nhập vào bề mặt mang nhay của niêm mac đường hô hấp, sinh dục và vết thương ở da (tiêm chích, sây sát, vết căn.
Vị trí đầu tiên virus nhân lên là các đại thực bào ở màng nhay, hạch amidan và hạch bach huyết, sau đó phân bố đến các cơ quan bạch huyết rồi cuối cùng đến các đại thực bảo ở các mô cơ quan. Virus có thé nhân lên ở tế bào của tinh hoàn, bao gồm tinh tử và tinh bào heo nhiễm bệnh (Meulenberg, 2000). Dịch tả heo cỗ điển (CSF) Bệnh Dịch tả heo cổ điển do virus thuộc giống Pestivirus, họ Flaviviridae gây ra chỉ cho loài heo. Dịch tả heo cổ điển có từ lâu đời và được mô tả lần đầu tiên vào năm 1833 ở Ohio Hoa kỳ.
Năm 1921, sau khi phát hiện bệnh dịch tả heo Châu Phi do một loài virus khác gây ra, các nhà khoa học đã dùng thuật ngữ “Dịch tả heo cô điển” nhằm phân biệt với bệnh dich tả heo Châu Phi. Dịch tả heo cổ điển là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và rất dé lây lan. Bệnh có tính chất toàn cầu và đang hiện diện khoảng trên 50 quốc gia. Bắc Mỹ, Úc và New Zealand hiện không có dịch bệnh.
Vào những năm 1990, các đợt bùng phát dịch lớn xảy ra ở Hà Lan (1997), Đức (1993-2000), Bi (1990, 1993, 1994) va Ý (1995, 1996, 1997). Tại Việt Nam, Dich tả heo vẫn tồn tại phổ biến va là mối đe doa nghiêm trọng đối với ngành chăn nuôi heo (Nguyễn Ngọc Hải và Đỗ Tiến Duy, 2017). Năm 2014, bệnh dịch tả heo cô điển đã xảy ra tại 17 tỉnh làm là 1.912 con heo mắc bệnh và số heo tiêu hủy là 894 con (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2014). Bệnh có thé lây trực tiếp qua tiếp xúc giữa heo mắc bệnh và heo khỏe mạnh hoặc lây gián tiếp qua các chất bài tiết, qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi, phương tiện vận chuyền hay do các động vật khác có mang mầm bệnh.
Bệnh dịch tả heo Chau Phi (ASF) Bệnh dich tả heo Châu Phi (ASF) là một bệnh do vi rút gây ra ở heo, gây chết cao và có thể chết gần 100% ở heo nhà (Linda Dixon, 2020). ASF là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và phức tạp nhất do vi rút gây ra, gây bệnh trên các loài heo. ASF không chỉ đe dọa an ninh lương thực và thách thức sinh kế của người chăn nuôi heo và các bộ phận khác của chuỗi cung ứng, mà còn gây ảnh hưởng tới nên kinh tế - xã hội và vệ sinh thực phẩm, gây ra những hạn chế thương mại quốc tế, khu vực và quốc gia. ASF đã làm giảm đáng kể nguồn cung protein động vật toàn cầu năm 2020 ở mức 10-20%, ảnh hưởng đến thương mại lương thực và an ninh lương thực và sinh kế trên toàn cầu (Vesterinen, 2021) Sự lây lan xuyên lục địa đầu tiên được mô tả ở Tây Ban Nha vào năm 1957 và từ đó đến một số quốc gia ở Châu Âu, Trung Mỹ, Nam Mỹ.
Tuy nhiên, ngoại trừ Sardinia (Ý), 6 dịch chỉ được kiềm chế trong thời gian ngắn và bị tiêu diệt vao giữa những năm 1990. Sự lây lan xuyên lục địa thứ hai được báo cáo tại Geogria (2007). Sau đó, dịch bệnh lan sang Liên bang Nga và đến biên giới với Ukraine (Boklund va cs, 2018). Dịch tả heo Châu Phi hiện là một dịch bệnh ở 24 quốc gia trên thế giới, bao gồm 11 quốc gia ở Châu Âu, 9 quốc gia ở Châu Á và 4 quốc gia ở Châu Phi (OIE, 2019).
Tại Việt Nam, 6 dich ASF dau tiên đã được báo cáo vào đầu tháng 2 năm 2019 ở một tỉnh phía Bắc, Việt Nam và chủng nhiễm thuộc genotype II đã được chính thức báo cáo ngay sau đó, tương đồng 100% so với chủng của Trung Quốc (Le và cs, 2019). Việt Nam có rất nhiều trang trại nhỏ quy mô hộ gia đình, điển hình là an toàn sinh học kém, cơ sở vật chất và chăn nuôi lạc hậu, và nhận thức thấp về các quy định thú y, góp phần chính trong việc xâm nhập, lây lan và duy trì của bệnh. Vì thế, ngay sau khi xâm nhập vào nước ta, sự lây lan diễn ra khá nhanh, chỉ sau 3-4 tháng dịch đã lên đến đỉnh điểm và lây lan đến hơn 8.500 xã thuộc 63 tỉnh thành trong vòng 9 tháng tiếp theo. Chỉ sau một năm, thiệt hại được báo cáo chính thức từ Cục Chăn nuôi và Cục Thú y do ASF gây ra là rất lớn, số heo mắc bệnh và tiêu hủy khoảng 5.9 triệu con (chiếm khoảng 23% tổng đàn) và chiếm khoảng 9% tông sản lượng thịt heo được sản xuất trong cả nước.
Đặc điểm mầm bệnh: Bệnh Dịch tả heo Châu Phi do vi-rút thuộc họ Asfarviridae, giông Asfarvirus, nhân lên trong tế bào chất của tế bao bị nhiễm. La vi-rút có cau tạo phức tạp, kích thước khá lớn, có vỏ bọc ngoài (envelop). Dưới kinh hiển vi điện tử, đường kính trung bình của hạt vi-rút khoảng 200 nm. Hạt vi rút gồm lõi nucleoprotein có đường kính khoảng 80 nm.
Bộ gien được bao bọc trong mang lipid và được bao phủ bởi một capsid hình khối hai mươi mặt, được tạo thành từ 1892-2172 capsome (Elsukova và cs, 2017). Truyền lây: Vi-rút ASF có thé truyền lây trực tiếp từ heo rừng qua heo nha thông qua kí chủ trực tiếp là các loài ve ký sinh trên heo rừng. Ngoài ra, có thể truyền lây qua thịt heo nhiễm vi-rút ASF. Heo nuôi bị nhiễm vi-rút ASF có thé bài thải một lượng lớn vi-rút khi có dấu hiệu lâm sảng, qua nước bọt, nước mắt, dịch mũi, nước tiêu, phân, dịch âm đạo.
Vi-rút cũng có rất nhiều trong máu.