Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.Chuyển đổi sản xuất Theo H. Chenery (1988), khái niệm chuyển đổi cơ cấu kinh tế là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của tổng sản phẩm quốc dân (GDP), bao gồm sự tích luỹ của vốn vật chất và con người, thay đổi nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm. Ngoài ra còn các quá trình kinh tế xã hội kèm theo như đô thị hoá, biến động dân số, thay đổi trong việc thu nhập. Khái niệm chuyển đổi cơ cấu kinh tế được sử dụng đồng nghiã với cụm từ chuyển dịch cơ cấu kinh tế được một số tài liệu nghiên cứu khác sử dụng, về bản chất chỉ sự thay đổi đổi trong cơ cấu kinh tế (change hay transformation).
Fisher (1935) phân biệt ba khu vực kinh tế Sơ cấp (nông nghiệp), Cấp hai (công nghiệp) và Cấp ba (dịch vụ) và trong sự phát triển việc làm và đầu tư chuyển từ khu vực sơ cấp sang cấp hai và một phần sang cấp ba. Clark (1940) phát triển thêm cho rằng chính năng suất lao động trong các khu vực đã quyết định việc chuyển lao động từ khu vực năng suất thấp sang khu vực năng suất cao. Song song với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế chung có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và không thể tách rời hai quá trình này. Sự phát triển của nông nghiệp do hai hiệu ứng chi phối: Hiệu ứng Engel, xây dựng trên thuyết vi mô về tiêu dùng, cho rằng lúc thu nhập của nhân dân tăng lên thì nhu cầu sản phẩm nông nghiệp lúc đầu tăng theo, nhưng đến một lúc nào đó sẽ bị bão hoà và nhu cầu không tăng nữa.
Tỷ lệ giữa tăng thu nhập và tăng nhu cầu gọi là hệ số co giãn. Hệ số này lúc đầu tăng, đến một thời điểm sẽ giảm xuống. Khi nhu cầu đã bị bão hoà thì nông nghiệp muốn tiếp tục phát triển phải đa dạng hoá sản phẩm. Hiệu ứng Malassis, cho rằng đến một lúc nào đấy phần của dân số phục 6 vụ cho việc ăn uống tăng lên không phải trong khu vực nông nghiệp nữa mà trong khu vực phi nông nghiệp.
Do đấy, giá trị gia tăng của khu vực công nghiệp chế biến sẽ tăng lên và vượt giá trị nông nghiệp. Theo Malassis thì nhu cầu của sản xuất nông nghiệp tăng chậm hơn nhu cầu của sản xuất và chế biến thức ăn. Kinh nghiệm của một số nước cho thấy là, muốn phát triển được phải áp dụng các cải tiến kỹ thuật và thể chế cho phép khu vực nông nghiệp tạo ra được thêm thu nhập. Phải có các cơ chế để chuyển thu nhập giữa các khu vực thì mới có sự phát triển.
Thị trường là công cụ để chuyển thu nhập. Phải có một thị trường hoàn chỉnh phản ảnh được quan hệ giữa cung cầu. Thu nhập của nông nghiệp sang công nghiệp phải được dùng để sản xuất các vật tư giúp cải tiến kỹ thuật nông nghiệp (Y. Quan niệm của đề tài về khái niệm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn thể hiện ở việc đa dạng hoá sản xuất, phát triển nông nghiệp toàn diện để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng lên của xã hội và phát triển ngành nghề phi nông nghiệp nhằm rút bớt lao động ra khỏi nông nghiệp và nông thôn, tăng năng suất lao động nông nghiệp và tăng thu nhập của hộ nông dân.
Một số đặc điểm về VietGAP Thực hiện sản xuất an toàn trong nông nghiệp là vấn đề được quan tâm của nhiều nghiên cứu, các quốc gia và các nghiên cứu trong nước đã manh nha thực hiện sản xuất an toàn, tuy nhiên trước hết phải hiểu thực hành nông nghiệp tốt, đó là viết tắt của 3 chữ cái đầu Good Agriculture Production và được dịch sang tiếng Việt là ”Thực hành nông nghiệp tốt” [Chính phủ, 2012], GAP có ý nghĩa đối với sản xuất trong nông nghiệp như sau: Đây là công nghệ sản xuất tiên tiến của nhà nông, quy trình sản xuất tuân thủ theo quy trình kỹ thuật giúp tạonăng suất cao, chất lượng tốt, sản phẩm nông sản đẹp và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường sản 7 xuất không bị ô nhiễm. Trong quá trình sản xuất bắt buộc phải lập danh mục hồ sơ được ghi chép để có cơ sở xin được cấp chứng chỉ an toàn cho sản phẩm. GAP còn quan tâm đến an toàn phúc lợi cho người lao động trong quá trình thực hiện trực tiếp sản xuất nông nghiệp chẳng hạn như người lao động được tập huấn, hướng dẫn kiến thức, kỹ năng, có trang bị bảo hộ lao động, điều kiện sản xuất đảm bảo ở nơi thoáng mát, an toàn. Trên nhiều quốc gia trên thế giới, biểu hiện về mức độ của “Thực hành nông nghiệp tốt” rất khác nhau, chẳng hạn, tiêu chuẩn chung trên toàn cầu là GlobalGAP, tại châu Âu có EuroGAP, tại châu Á là AseanGAP,.
Ở Việt Nam cơ sở ra đời của VietGAP là dựa trên tiêu chuẩn GlobalGAP, EuroGAP, AseanGAP, FRESHCARE nhằm trợ giúp cho sản phẩm nông sản có cơ hội được xuất khẩu sang các quốc gia ở khu vực và trên thế giới, từ đó định hướng cho nền sản xuất nông nghiệp quốc gia mang tính an toàn cao. Vào ngày 28/1/2008, tiêu chuẩn VietGAP đầu tiên là quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn đã chính thức được Bộ NN&PTNT ban hành và đã phát huy tác dụng. Ý nghĩa của VietGAP là viết tắt của cụm từ Vietnamese Good Agricultural Practices, với ý nghĩa”Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam”. Đây có thể nói là bộ hững nguyên tắc trình tự thủ tục hướng dẫn tổ chức/cá nhân sản xuất, thu hoạch, sơ chế sản phẩm nông nghiệp đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người tiêu dùng, bảo vệ môi trường và truy suất nguồn gốc với 4 tiêu chí: (1) Tiêu chuẩn về kỹ thuật sản xuất an toàn; (2) An toàn thực phẩm đó là đảm bảo không có hóa chất nhiễm khuẩn hoặc ô nhiễm vật lý khi thu hoạch; (3) Môi trường làm việc mục đích nhằm ngăn chặn việc lạm dụng sức lao động của nông dân và (4) Truy xuất nguồn gốc sản phẩm từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm.
Ban hành văn bản pháp luật, VietGAP, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật 8 1. Các văn bản pháp luật có liên quan còn hiệu lực Từ năm 2008 Bộ NN&PTNT chính thức ban hành quy trình VietGAP và đã xây dựng, bổ sung rất nhiều các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, bên cạnh đó có văn bản đã hết hiệu lực. Các văn bản còn hiệu lực đó là: - Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về ”một số chính sách hỗ trợ áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản”; - Thông tư số 48/2012/TT-BNNPTNT ngày 06/9/2012 quy định về ”chứng nhận sản phẩm thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi được sản xuất, sơ chế phù hợp với GAP (thay thế Quyết định 84/2008/QĐ-BNN)”; - Thông tư số 53/2012/ TT-BNNPTNT ngày 26/10/2012 ”ban hành danh mục sản phẩm được hỗ trợ theo quyết định 01/2012 QĐ-TTg”; - Thông tư số 55/2012/TT-BNNPTNT ngày 31/10/2012 về ”chỉ định tổ chức chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy thuộc phạm vi quản lý của Bộ NN&PTNT (thay thế Thông tư 32/2010/TT-BNNPTNT)”; - Thông tư số 59/2012/TT-BNNPTNT ngày 09/11/2012 về ”quản lý sản xuất rau quả chè an toàn (thay thế Quyết định 99/2008/QĐ-BNN)”. Ban hành quy trình VietGAP Tại Việt Nam đang triển khai trên 4 quy trình cho sản phẩm nông nghiệp như rau, hoa quả tươi, chè búp tươi, lúa, cà phê, cụ thể: - Quyết định số 379/QĐ-BNN-KHCN ngày 28 tháng 01 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn; - Quyết định số 1121/QĐ-BNN-KHCN ngày 14 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho chè búp tươi an toàn được ban hành kèm theo; - Quyết định số 2998 /QĐ-BNN-TT ngày 9 tháng 11 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt 9 cho lúa.
- Quyết định số 2999 /QĐ-BNN-TT ngày 9 tháng 11 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho cà phê. Các tiêu chuẩn Việt Nam và quy chuẩn Việt Nam có liên quan Các tiêu chuẩn và quy chuẩn liên quan mà nhà nước đã được ban hành có liên quan trong tiêu chuẩn VietGAP, đó là: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất: QCVN 03: 2008/BTNMT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt: QCVN 02: 2009/BYT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu - Điều kiện bảo đảm hợp vệ sinh: QCVN 01: 2011/ BYT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dùng cho tưới tiêu: QCVN 39: 2011/BTNMT; Rau tươi - Phương pháp lấy mẫu trên ruộng sản xuất: TCVN 9016: 2011; Quả tươi - Phương pháp lấy mẫu trên vườn sản xuất: TCVN 9017: 2011; Rau, quả tươi - lấy mẫu: TCVN 5102 - 1990 (ISO 874 - 1980); Chè - Quy trình lấy mẫu kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm: QCVN 01-28: 2010/BNNPTNT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn vệ sinh đối với bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm bằng nhựa tổng hợp: QCVN 12-1: 2011/BYT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn vệ sinh đối với bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm bằng cao su: QCVN 12-2: 2011/BYT; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn vệ sinh đối với bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm bằng kim loại.