Tài liệu Y tế: Nghiên cứu tỷ lệ và kết quả điều trị chảy máu sau đẻ tại

Nghiên cứu tỷ lệ và kết quả điều trị chảy máu sau sinh tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội giai đoạn 2016-2017. Phân tích số liệu lâm sàng và hiệu quả can thiệp.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

63
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Định Nghĩa và Tầm Quan Trọng Chảy Máu Sau Đẻ

Chảy máu sau đẻ (CMSĐ) là một trong những biến chứng nguy hiểm nhất trong sản khoa hiện đại. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chảy máu sau đẻ được xác định là mất máu trên 500ml trong 24 giờ sau khi sinh con. Tuy nhiên, ở các nước phát triển, tiêu chuẩn này được nâng lên 1000ml cho những trường hợp nặng hơn. Tỷ lệ chảy máu sau đẻ dao động từ 2-8% ở các bệnh viện lớn, nhưng có thể lên tới 10-15% ở các vùng khó khăn. Đây là nguyên nhân gây tử vong mẹ hàng đầu trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Việc nghiên cứu kết quả điều trị chảy máu sau đẻ tại các bệnh viện là vô cùng cần thiết để nâng cao chất lượng chăm sóc sản phụ.

1.1. Định Nghĩa Chảy Máu Sau Đẻ

Chảy máu sau đẻ được chia thành hai loại: chảy máu sớm (trong 24 giờ đầu sau sinh) và chảy máu muộn (sau 24 giờ đến 12 tuần). Chảy máu sớm chiếm khoảng 80% các trường hợp. Mức độ chảy máu được phân loại theo lượng máu mất: nhẹ (<500ml), vừa (500-1000ml) và nặng (>1000ml). Các dấu hiệu lâm sàng bao gồm huyết áp giảm, tim đập nhanh, da nhợt nhạtcó thể sốc mất máu.

1.2. Tầm Quan Trọng Nghiên Cứu

Nghiên cứu tỷ lệ và kết quả điều trị chảy máu sau đẻ giúp các cơ sở y tế hiểu rõ hơn về tình hình thực tế tại địa phương. Khóa luận này được thực hiện tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong giai đoạn 2016-2017, cung cấp dữ liệu quý báu về tỷ lệ mắchiệu quả điều trị, từ đó giúp cải thiện các biện pháp phòng ngừa và xử trí.

II. Các Nguyên Nhân Gây Chảy Máu Sau Đẻ

Các nguyên nhân gây chảy máu sau đẻ rất đa dạng và phức tạp. Theo các tài liệu y khoa, nguyên nhân chủ yếu là do tử cung không co hết (chiếm 70%), rau không toàn vẹn (10%), chấn thương đường sinh dục (15%) và rối loạn đông máu (5%). Trong đó, đờ tử cung là nguyên nhân hàng đầu cần được phát hiện và xử trí sớm. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi sản phụ cao, đa thanh, thai to, tiền sử chảy máu sau đẻcác bệnh lý kèm theo. Việc nắm rõ các nguyên nhân chảy máu sau đẻ tại từng cơ sở là cơ sở để lập kế hoạch phòng ngừa hiệu quả.

2.1. Nguyên Nhân Do Tử Cung

Đờ tử cung (atonia uteri) xảy ra khi cơ tử cung mất khả năng co bóp sau sinh. Tình trạng này liên quan đến giải phẫu sinh lý cơ tử cung và khả năng kiểm soát tử cung. Các yếu tố nguy cơ bao gồm sử dụng quá nhiều oxytocin, gây mê kéo dài, hoặc cơ tử cung yếu. Xử trí chảy máu sau đẻ do đờ tử cung chủ yếu dựa vào massage tử cung, dùng oxytocin và các chế phẩm co tử cung khác.

2.2. Nguyên Nhân Do Rau Và Chấn Thương

Rau không toàn vẹn hoặc nhau thai còn sót lại gây chảy máu kéo dài. Chấn thương đường sinh dục bao gồm vết mổ tầng sinh môn, rách âm đạo, hoặc tổn thương cổ tử cung. Kết quả điều trị chảy máu do các nguyên nhân này phụ thuộc vào mức độ tổn thương. Cần kiểm tra kỹ lưỡng rau thai và đường sinh dục để phát hiện sớm và xử trí kịp thời.

III. Phương Pháp Xử Trí Chảy Máu Sau Đẻ

Xử trí chảy máu sau đẻ đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các khoa và sự nhanh nhạy của đội ngũ y tế. Các phương pháp xử trí được áp dụng từ từng bước: bắt đầu từ massage tử cung, sử dụng thuốc co tử cung như oxytocin, methylergonovine, và prostaglandin. Nếu chảy máu không dừng, tiến hành các thủ thuật, phẫu thuật xử trí chảy máu sau đẻ nặng như kiểm soát tử cung, nong buồng tử cung, hoặc động mạch tử cung. Kết quả điều trị phụ thuộc vào độ kịp thời phát hiện nguyên nhân và mức độ hiệu quả của các biện pháp can thiệp. Theo dữ liệu từ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, hầu hết các trường hợp chảy máu sau đẻ đều có thể kiểm soát được nếu được xử trí đúng cách.

3.1. Các Thuốc Sử Dụng

Oxytocin là thuốc hàng đầu để kích thích co tử cung. Liều lượng và cách sử dụng cần tuân thủ dự phòng chảy máu sau đẻ. Methylergonovineprostaglandin được sử dụng khi oxytocin không đủ hiệu quả. Các loại thuốc này có tác dụng lâm sàng rõ rệt trong việc giảm tỷ lệ chảy máu sau đẻ. Cần chú ý các hậu quả của chảy máu như hội chứng Sheehan nếu không xử trí kịp thời.

3.2. Các Thủ Thuật Nặng

Khi thuốc không hiệu quả, cần thực hiện các thủ thuật, phẫu thuật xử trí như buồng tử cung hoàn toàn (hysterectomy), cắt động mạch hạ vị, hoặc nút động mạch tử cung. Số ngày điều trị sau chảy máu phụ thuộc vào mức độ nặng và biến chứng. Theo nghiên cứu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, các kết quả điều trị này có hiệu quả cao trong việc cứu sống sản phụ.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu và Ý Nghĩa Lâm Sàng

Nghiên cứu tỷ lệ và kết quả điều trị chảy máu sau đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ năm 2016-2017 cung cấp những thông tin quý báu về thực trạng chảy máu sau đẻ ở Hà Nội. Tỷ lệ chảy máu sau đẻ được ghi nhận với các yếu tố liên quan như tuổi sản phụ, phương pháp đẻ, trọng lượng thai, và thời điểm phát hiện. Những dữ liệu này giúp nhân viên y tế nhận diện sớm các yếu tố nguy cơ và áp dụng dự phòng chảy máu sau đẻ hiệu quả hơn. Kết quả điều trị cho thấy tỷ lệ sản phụ được cứu sống cao khi can thiệp kịp thời. Việc nâng cao nhận thức về tỷ lệ mắc và cải thiện các phương pháp xử trí là những bước tiến quan trọng trong giảm tử vong mẹ tại cộng đồng.

4.1. Đặc Điểm Dân Số Bệnh Nhân

Nghiên cứu phân tích tuổi sản phụ, tuổi thai, số lần đẻ, và trọng lượng thai ở những phụ nữ bị chảy máu sau đẻ. Các trường hợp chảy máu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội được phân loại theo phương pháp đẻ (đẻ thường vs sinh mổ) và thời điểm phát hiện CMSĐ. Dữ liệu cho thấy tổng lượng máu mất của cuộc đẻ và mối liên quan với các yếu tố nguy cơ, từ đó giúp dự đoán kết quả điều trị.

4.2. Hiệu Quả Điều Trị và Khuyến Nghị

Các biện pháp xử trí CMSĐ theo nguyên nhân được áp dụng dẫn đến tỷ lệ thành công cao. Số ngày điều trị sau chảy máu thay đổi tùy thuộc vào các hậu quả của chảy máu sau đẻ như tử vong con hoặc tử vong mẹ. Nghiên cứu khuyến cáo cần tăng cường dự phòng bằng cách sử dụng oxytocin định kỳ, kiểm soát tử cung đầu hạn, và đảm bảo các cơ sở y tế sẵn sàng xử trí chảy máu sau đẻ khẩn cấp.

19/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Chảy máu sau đẻ (CMSĐ) là một tai biến thƣờng gặp nhất trong năm tai biến sản khoa thƣờng gặp gây ảnh hƣởng đến tình trạng mẹ, nếu không đƣợc chẩn đoán xử trí kịp thời. Chảy máu sau đẻ là biến chứng đầu tiên ở tất cả các cuộc đẻ đƣờng âm đạo cũng nhƣ phẫu thuật mổ lấy thai. Chảy máu sau đẻ là nguyên nhân gây tử vong mẹ chính trong sản khoa, đặc biệt khi có biểu hiện rối loạn đông máu. Nghiên cứu tại 50 nƣớc trên thế giới của Tổ chức Y tế thế giới về vấn đề chảy máu sau đẻ cho thấy tỷ lệ chảy máu sau đẻ thấp nhất tại Quatar (0,55%) và cao nhất tại Hunduras (17,5%).

Tại Uganda năm 2013-2014 tỷ lệ này là 9,0% [24], hay tại Mỹ tỷ lệ vào năm 1994 là 2,3%, và tăng lên 2,9% vào năm 2006. Tại Việt Nam trong những năm 1998-1999 tỷ lệ chảy máu sau đẻ là 0,81%, và giảm còn 0,60% vào giai đoạn 2008-2009 [2]. Có nhiều nguyên nhân gây ra chảy máu sau đẻ nhƣ đờ tử cung, sót rau, chấn thƣơng đƣờng sinh dục, vỡ tử cung, rau tiền đạo, rau bong non, rau cài răng lƣợc, rối loạn đông máu… Nếu phát hiện sớm nguyên nhân chảy máu sau đẻ và có biện pháp xử lý chính xác kịp thời sẽ giảm đƣợc tỷ lệ tử vong cho mẹ. Tại Na Uy, trong tổng số 43.105 ca sinh từ năm 2008 đến năm 2011, nghiên cứu đã xác định đƣợc 1064 ca có chảy máu sau đẻ nặng (chảy trên 1500ml), chiếm tỷ lệ 2,5%, trong đó nguyên nhân chính là do đờ tử cung (60,0%), bất thƣờng về nhau thai (36,0%) [23].

Hay theo nghiên cứu tại Hà Lan, trên 327 phụ nữ chảy máu nặng sau đẻ thì 83 phụ nữ (25,0%) đã phải cắt bỏ tử cung, 227 phụ nữ (69,0%) phải vào đơn vị chăm sóc đặc biệt (ICU) và ba phụ nữ chết (0,9%) [26]. Vì tính chất cấp cứu và mức độ nguy hiểm của chảy máu sau đẻ, mà Tổ chức Y tế thế giới đã đƣa ra khuyến cáo về xử trí tích cực giai đoạn 3 chuyển dạ. Đồng thời theo Quyết định số 315/QĐ-BYT-SKSS ngày 29/01/2015 của Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hƣớng dẫn chẩn đoán và điều trị các bệnh sản phụ khoa”, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội (BVPSHN) đã triển khai và ứng dụng rộng rãi đem lại hiệu quả để phòng ngừachảy máu sau đẻ.2017 Tuy nhiên, chảy máu sau đẻ vẫn là một trong năm biến chứng nguy hiểm nhất của tai biến sản khoa ảnh hƣởng đến sức khỏe và tính mạng của sản phụ. Chảy máu sau đẻ vẫn luôn là một đề tài mang tính cấp thiết trong sản khoa, ngay cả với các nƣớc có nền y học phát triển.

Xuất phát từ vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tỷ lệ và kết quả điều trị chảy máu sau đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong hai năm 2016-2017” với hai mục tiêu nghiên cứu: 1. Nhận xét tỷ lệ chảy máu sau đẻ và các yếu tố liên quan tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong hai năm 2016-2017. Đánh giá kết quả điều trị chảy máu sau đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội trong hai năm 2016-2017.2017 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. ĐỊNH NGHĨA CHẢY MÁU SAU ĐẺ Theo WHO, CMSĐ là khi lƣợng máu mất trên 500ml hoặc shock do mất máu xảy ra ngay sau đẻ và thƣờng xảy ra trong 24h đầu [17,27].

Nguyên nhân thƣờng gặp của chảy máu sau đẻ bao gồm: bệnh lý trong thời kỳ sổ thai (đờ tử cung, sót rau sau đẻ, lộn tử cung, rau cài răng lƣợc…), tổn thƣơng đƣờng sinh dục (vỡ tử cung, rách CTC, rách âm đạo, rách tầng sinh môn), bệnh lý rối loạn đông máu (hiếm gặp) [1,5,17]. Ƣớc lƣợng máu mất đƣợc tống ra ngoài thƣờng chỉ đƣợc một nửa lƣợng máu mất thực sự. Máu trộn lẫn với nƣớc ối và đôi khi với nƣớc tiểu, thấm trong gạc, ga trải giƣờng, trên sàn nhà… Một định nghĩa khác của CMSĐ là lƣợng máu mất trên 15% thể tích máu toàn phần đƣợc ƣớc tính. Đánh giá nguy cơ trong giai đoạn tiền sản không dự đoán đúng đƣợc sản phụ nào sẽ bị CMSĐ.

Xử trí tích cực trong giai đoạn 3 của cuộc chuyển dạ cần phải đƣợc thực hiện trên tất cả các sản phụ trong chuyển dạ để làm giảm tỷ lệ CMSĐ do đờ tử cung. Tất cả các sản phụ sau sinh đều phải đƣợc theo dõi kỹ để đề phòng CMSĐ. Để đánh giá đƣợc mức độ nguy hiểm của CMSĐ thì không chỉ căn cứ vào lƣợng máu mất nhiều hay ít mà còn căn cứ vào thể trạng thai phụ. Túi đong máu chảy sau đẻ (Hình ảnh được chụp tại phòng đẻ C Khoa A2 BVPSHN ngày 23/12/2017) Nghien.

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU, SINH LÝ LIÊN QUAN ĐẾN CHẢY MÁU SAU ĐẺ 1. Giải phẫu sinh lý cơ tử cung Tử cung là một cơ quan rỗng, thành dày của nó chủ yếu do lớp cơ tạo nên. Tử cung gồm 3 lớp tính từ trong ra ngoài đó là niêm mạc, cơ tử cung, phúc mạc. Cơ tử cung có vai trò quan trọng tham gia vào việc cầm máu sau đẻ.

Cơ tử cung có 3 lớp: lớp ngoài là cơ dọc, lớp giữa là lớp cơ rối, đây là lớp dày nhất chỉ có ở thân tử cung, đan chéo bao quanh các mạch máu ở tử cung [10]. Sau khi sổ rau lớp cơ này co lại chèn vào các mạch máu làm cho máu tự cầm. Khi cơ tử cung giảm hoặc mất trƣơng lực (đờ tử cung) thì sẽ gây ra CMSĐ. Lớp trong là lớp cơ vòng, ở đoạn dƣới tử cung chỉ có cơ vòng và cơ dọc, không có lớp cơ đan cho nên rau tiền đạo cũng là một nguyên nhân gây CMSĐ.

Theo Pernoll [25] thì đờ tử cung là nguyên nhân thƣờng gặp nhất của CMSĐ chiếm 50% các trƣờng hợp. Giải phẫu, sinh lý bánh rau Bánh rau hình tròn, đƣờng kính khoảng 15cm, nặng bằng 1/6 trọng lƣợng thai nhi (khoảng 400-500 gram), dày 2,5-3 cm, mỏng hơn ở ngoại vi. Mỗi bánh rau gồm 15-20 múi, giữa các múi là các rãnh nhỏ. Bánh rau hình thành do sự phát triển của màng rụng nền và màng đệm.

Màng rụng ở vùng bánh rau có 3 lớp: lớp đáy, lớp xốp và lớp đặc. Lớp xốp là đƣờng bong của rau sau khi sinh. Trong lớp đặc có sản bào và hố khuyết. Đại đa phần màng này rụng sau sinh và có chảy máu kèm theo [1].3 Sinh lý thời kỳ sổ rau Sổ rau là giai đoạn 3 của một cuộc chuyển dạ, bình thƣờng kéo dài trung bình 30 phút.

Sự bong rau xảy ra ở lớp nông (lớp đặc) của màng rụng [1]. Sự bong rau xảy ra qua 3 thì: Nghien.2017 - Thì bong rau: Sau khi sổ thai, tử cung co lại nhƣng vì bánh rau có tính chất đàn hồi kém nên co rúm lại, dày lên, lớp rau chờm ra ngoài vùng rau bám. Các gai rau bị kéo căng, mạch máu lớp xốp đứt gây chảy máu. Trọng lƣợng cục máu sau rau làm cho rau bong tiếp.

Có 2 kiểu bong rau: Baudelocque và Ducan. - Thì sổ rau: Dƣới tác dụng của cơn co tử cung, rau bong kéo theo màng ối xuống đoạn dƣới, rồi xuống âm đạo và ra ngoài. - Thì cầm máu: Nhờ sự co bóp của tất cả các sợi cơ tử cung và cơ chế đông máu bình thƣờng. Sau sổ rau, tử cung co lại thành một khối an toàn [1,5].

Cấu tạo âm đạo và mạch máu âm đạo 1. Cấu tạo Đi từ ngoài vào trong ÂĐ gồm 3 lớp [12]: - Lớp cơ trơn có thớ dọc ở nông và thớ vòng ở sâu. - Lớp niêm mạc ÂĐ trƣớc và sau đội lên thành cột trƣớc và cột sau, vị trí lệch nhau. Mạch máu Động mạch nuôi dƣỡng âm đạo đƣợc tách từ 3 nguồn: - Động mạch CTC-ÂĐ, tách từ ĐMTC, cấp máu cho 1/3 trên ÂĐ.

- Động mạch ÂĐ dài, tách ra từ động mạch hạ vị (hoặc ở động mạch tử cung, hoặc ở động mạch trực tràng dƣới, cấp máu cho 2/3 dƣới ÂĐ). - Động mạch trực tràng dƣới [12]. Mạch máu cơ quan sinh dục nữ [22] 1. CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY CHẢY MÁU SAU ĐẺ 1.

Đờ tử cung Đờ tử cung (ĐTC) là dấu hiệu tử cung không co chặt lại thành khối an toàn sau đẻ để thực hiện tắc mạch sinh lý, do đó gây chảy máu [5]. Đờ tử cung là nguyên nhân thƣờng gặp nhất, đờ tử cung bao gồm: đờ tử cung nguyên phát và đờ tử cung thứ phát [1,5]. Các yếu tố có thể dẫn đến đờ tử cung: - Sản phụ suy nhƣợc, thiếu máu, tăng huyết áp, tiền sản giật… - Nhƣợc cơ tử cung do chuyển dạ kéo dài - Tử cung mất trƣơng lực sau khi đẻ quá nhanh - Đẻ nhiều lần làm cho chất lƣợng cơ tử cung kém - Tử cung có sẹo mổ, u xơ tử cung, tử cung dị dạng… - Tử cung bị quá căng: đa thai, đa ối, con to - Chuyển dạ kéo dài, dùng oxytocin quá lâu để gây chuyển dạ - Chuyển dạ quá nhanh do cơn co tử cung cƣờng tính - Nhiễm trùng - Gây mê sâu - Giảm tƣới máu đến tử cung: do hạ huyết áp, tăng huyết áp trong thai kì [1,5]. Chảy máu sau đẻ do rau, phần phụ của thai 1.

Sót rau Rau sót nhiều hay ít trong tử cung đều gây chảy máu. Sót rau làm cho tử cung không co chặt đƣợc. Chảy máu là dấu hiệu sớm của sót rau, ngay sau khi sổ rau do các xoang tĩnh mạch ở nơi rau bám không đóng lại đƣợc. Vì vậy cần kiểm soát tử cung ngay khi có sót rau.

Nguyên nhân: - Do tiền sử nạo, hút, sảy thai nhiều lần - Do đẻ nhiều lần và đã có lần bị sót rau viêm niêm mạc tử cung - Sau đẻ non, đẻ thai lƣu, do sẹo mổ cũ Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Vy tỷ lệ CMSĐ do sót rau là 9,5% [15], vì vậy phải phát hiện sớm sót rau sau đẻ bằng cách kiểm tra bánh rau thấy thiếu. Chú ý đến múi rau phụ khi thấy mạch máu trên màng rau. Rau cài răng lược Đây là bệnh lý hiếm gặp của rau (tỷ lệ 1/2000 ngƣời đẻ) [5]. Rau cài răng lƣợc là trƣờng hợp rau bám trực tiếp vào cơ TC và đôi khi xuyên sâu vào lớp cơ TC, giữa các gai rau và lớp cơ TC, giống nhƣ các răng của một chiếc lƣợc.

Phân loại theo số lƣợng gai rau bám vào cơ tử cung: - Rau cài răng lƣợc toàn phần: là toàn bộ bánh rau bám vào cơ tử cung, do đó không thể bóc đƣợc và gây chảy máu. - Rau cài răng lƣợc bán phần: là chỉ có một số múi rau bám vào cơ tử cung, do đó bánh rau có thể bong một phần lớn và gây CMSĐ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ