Tổng quan nghiên cứu

Trong ngành công nghiệp dầu khí toàn cầu, tỷ lệ thành công địa chất trung bình trong công tác thăm dò hiện nay chỉ đạt khoảng 30%, đồng nghĩa với việc cứ ba giếng khoan thăm dò thì chỉ có một giếng phát hiện có tích tụ dầu khí thương mại. Hơn nữa, cơ chế khai thác tự nhiên ban đầu chỉ thu hồi được khoảng 25% trữ lượng dầu gốc, để lại hơn 75% lượng dầu còn lại nằm sâu trong các vi khe nứt của tầng đá chứa. Để duy trì áp suất vỉa và gia tăng hệ số thu hồi dầu, giải pháp kỹ thuật phổ biến là bơm ép một lượng lớn nước biển (với tổng hàm lượng stronti hòa tan khoảng 8 mg/L và tỷ số đồng vị bền 87Sr/86Sr cố định ở mức 0,7092) xuống các giếng ngầm. Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để nhận diện chính xác nguồn gốc nước vỉa nguyên sinh (với tỷ lệ 87Sr/86Sr dao động từ 0,707 đến 0,730) nhằm đánh giá mức độ ngập lụt, tuổi địa chất và sự dịch chuyển tầng chứa.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là nghiên cứu, phát triển và hoàn thiện quy trình tách loại triệt để canxi (Ca) và rubidi (Rb) ra khỏi stronti (Sr) trên hệ cột sắc ký trao đổi ion, kết hợp kỹ thuật pha loãng đồng vị (ID) trên hệ thống khối phổ plasma cao tần cảm ứng (ICP-MS) để xác định chính xác tỷ lệ đồng vị 87Sr/86Sr trong mẫu nước lỗ khoan dầu khí. Nghiên cứu được triển khai trong giai đoạn 2018–2019 thuộc đề tài cấp Bộ mã số ĐTCB.09/18/VCNXH. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp một công cụ phân tích tin cậy, giúp tiết kiệm hàng triệu USD chi phí vận hành thăm dò và giám sát khai thác mỏ dầu tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên ba trụ cột lý thuyết chuyên sâu trong lĩnh vực hóa phân tích và địa hóa học đồng vị:

Thứ nhất, lý thuyết phân rã phóng xạ của hệ đồng vị Rubidi - Stronti. Trong tự nhiên, stronti có bốn đồng vị bền gồm 84Sr (0,56%), 86Sr (9,86%), 87Sr (7,0%) và 88Sr (82,58%). Đồng vị 87Sr sinh ra do quá trình phân rã phóng xạ beta của đồng vị 87Rb với chu kỳ bán rã dài 4,88 × 10^10 năm. Tỷ số 87Sr/86Sr trong các tầng địa chất thay đổi theo thời gian và đặc trưng cho từng cấu trúc khoáng vật, trở thành dấu vết địa hóa quan trọng để xác định nguồn gốc nước.

Thứ hai, lý thuyết sắc ký trao đổi ion trong môi trường hỗn hợp nước - dung môi hữu cơ. Cơ chế phân tách dựa trên sự khác biệt về ái lực và hằng số phân bố (Kd) của các cation hóa trị I (Rb+ Kd = 2,6) và hóa trị II (Ca2+ Kd = 3,9; Sr2+ Kd = 4,95) trên pha tĩnh là nhựa trao đổi cationit và anionit.

Thứ ba, mô hình toán học của kỹ thuật pha loãng đồng vị (Isotope Dilution - ID). Bằng việc bổ sung một lượng biết trước đồng vị giàu 86Sr vào mẫu phân tích, nồng độ và tỷ lệ đồng vị được tính toán trực tiếp từ tỷ lệ tín hiệu đo được mà không phụ thuộc vào đường chuẩn hay sự mất mát cơ học trong quá trình xử lý mẫu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thực nghiệm gồm các mẫu nước chiết từ đá chứa dầu (EW), mẫu nước khai thác từ lỗ khoan dầu khí (PW) tại các mỏ dầu Việt Nam do Viện Dầu khí cung cấp, cùng các mẫu đối sánh từ mỏ dầu Kuwait (A-D) và mẫu chuẩn quốc tế NIST SRM 987 (SrCO3). Cỡ mẫu thực nghiệm được chuẩn bị lặp lại 3 đến 10 lần cho mỗi phép đo để đánh giá sai số thống kê.

Phương pháp tiền xử lý mẫu bao gồm quá trình phân hủy mẫu với 2 mL axit HNO3 đặc, cô cạn trên bếp điện và nung trong lò nung ở nhiệt độ 600°C trong thời gian từ 1 đến 2 giờ nhằm loại bỏ hoàn toàn chất hữu cơ và cặn dầu. Cặn rắn sau đó được hòa tan trong dung dịch HNO3 0,25M pha trong 95% metanol.

Quy trình phân tách sắc ký sử dụng hai hệ cột liên hoàn: cột trao đổi anion Bio-Rad AG1-X8 (200-400 mesh, dạng Cl-) để loại bỏ hàm lượng lớn canxi trong môi trường cồn, tiếp nối bằng cột trao đổi cation Bio-Rad AG50W-X8 (200-400 mesh, dạng H+) để rửa giải rubidi bằng dung dịch HNO3 1,0M và thu hồi stronti bằng dung dịch HNO3 2,0M ở tốc độ dòng ổn định 0,25 mL/phút.

Phép đo phổ khối được thực hiện trên thiết bị ICP-MS Model 7500a (Agilent) với công suất nguồn RF 1450W, lưu lượng khí plasma 15 L/phút, khí mang 1,2 L/phút và thời gian tích phân 1,0 giây tại mỗi điểm đo. Lựa chọn ID-ICP-MS thay vì TIMS giúp giảm thiểu thời gian phân tích mẫu, hạ thấp chi phí vận hành mà vẫn đảm bảo độ chính xác cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích bán định lượng mẫu nước lỗ khoan dầu khí thực tế cho thấy ma trận mẫu vô cùng phức tạp với nồng độ muối khoáng cao vượt trội. Hàm lượng canxi đạt tới 134.452 µg/L (134,45 ppm), kali đạt 28.001,5 µg/L và magie đạt 3.133,26 µg/L, trong khi hàm lượng stronti chỉ ở mức 6.613,98 µg/L (6,6 ppm) và rubidi là 282,91 µg/L. Tỷ lệ canxi cao gấp hơn 20 lần stronti gây hiện tượng quá tải dung lượng trao đổi của cột sắc ký cation.

Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ dung dịch rửa giải trên cột nhựa cation Bio-Rad AG50W-X8 chỉ ra rằng dung dịch HNO3 1,0M rửa giải chọn lọc hoàn toàn rubidi với hiệu suất thu hồi đạt trên 99% trong 70 mL đầu tiên. Dung dịch HNO3 2,0M cho phép giải hấp stronti nhanh chóng trong 80 mL tiếp theo với hiệu suất thu hồi đạt 98,3%, píc rửa giải nhọn và đối xứng. Khi tốc độ dòng tăng từ 0,25 mL/phút lên 1,0 mL/phút, chân píc của hai nguyên tố bị trùng lấn.

Nghiên cứu đã phát hiện ngưỡng nồng độ canxi giới hạn: khi hàm lượng canxi trong mẫu vượt quá 50 ppm (như ở mức 100 ppm), canxi kéo theo một phần stronti bị rửa giải sớm cùng với phân đoạn rubidi. Tuy nhiên, khi hạ nồng độ canxi xuống dưới 50 ppm, sự can thiệp này bị triệt tiêu hoàn toàn.

Quy trình tách sơ bộ canxi trên cột anion Bio-Rad AG1-X8 sử dụng 200 mL dung dịch HNO3 0,25M trong 95% metanol đã loại bỏ thành công hơn 95% lượng canxi mà không làm thất thoát stronti. Phép kiểm chuẩn với mẫu chuẩn quốc tế NIST SRM 987 sau khi đi qua quy trình hai cột cho tỷ lệ 87Sr/86Sr đo được đạt 0,71024, sai số tương đối RSD dưới 0,25%, chứng minh tính đúng và độ ổn định cao của phương pháp.

Thảo luận kết quả

Cơ chế phân tách canxi và stronti trên cột anion trong môi trường 95% metanol được giải thích bởi sự hình thành các phức chất nitrato mang điện tích âm của stronti với nhóm amin bậc bốn trên khung nhựa, trong khi canxi có hằng số bền tạo phức thấp hơn nhiều nên bị rửa giải trôi ra trước. Dữ liệu thực nghiệm phân tách được minh chứng rõ nét qua đồ thị đường cong rửa giải biểu diễn nồng độ kim loại theo thể tích dung dịch qua cột. Trên biểu đồ sắc ký, píc rửa giải của canxi xuất hiện tách biệt ở các phân đoạn từ 1 đến 7, trong khi stronti chỉ bắt đầu xuất hiện và đạt đỉnh ở các phân đoạn từ 8 đến 15.

Bảng so sánh kết quả đo tỷ số đồng vị trước và sau khi tách rubidi khẳng định sự cần thiết tuyệt đối của bước làm sạch mẫu. Nếu không loại bỏ Rb, đồng vị 87Rb gây nhiễu trùng khối trực tiếp tại số khối m/z = 87 của 87Sr, làm sai lệch kết quả đo lên tới hơn 15%. So với phương pháp TIMS vốn đòi hỏi kỹ thuật nạp mẫu phức tạp và chi phí thiết bị đắt đỏ, phương pháp ID-ICP-MS kết hợp hệ cột trao đổi hai giai đoạn mang lại độ lặp lại cao, thời gian xử lý nhanh gấp ba lần và giới hạn định lượng (LOQ) đáp ứng tốt việc phân tích các mẫu địa chất thực tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuẩn hóa và ứng dụng rộng rãi quy trình phân tích vào thực tiễn địa hóa dầu khí, các đề xuất cụ thể bao gồm:

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình phân tích hai cột sắc ký (Bio-Rad AG1-X8 và AG50W-X8) thành Tiêu chuẩn Vận hành Cơ sở (SOP) tại các phòng kiểm nghiệm thuộc Viện Dầu khí Việt Nam và Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, thời gian hoàn thiện trong vòng 6 tháng.

Thứ hai, duy trì nghiêm ngặt tốc độ dòng rửa giải ở mức 0,25 mL/phút cùng nồng độ dung môi HNO3 0,25M trong 95% metanol để đảm bảo hiệu suất thu hồi stronti luôn duy trì trên 98% và độ lệch chuẩn tương đối RSD dưới 0,25%.

Thứ ba, xây dựng cơ sở dữ liệu số về bản đồ đồng vị 87Sr/86Sr cho toàn bộ các tầng chứa dầu khí trọng điểm (gồm tầng Miocen, Oligocen và móng nứt nẻ) tại thềm lục địa Việt Nam trong giai đoạn 2024–2026 do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam chủ trì.

Thứ tư, nâng cấp hệ thống ghép nối trực tuyến sắc ký lỏng hiệu năng cao với ICP-MS (HPLC-ICP-MS) trong vòng 12 tháng tới nhằm tự động hóa hoàn toàn khâu nạp mẫu và tách dòng, cắt giảm 50% thời gian xử lý thủ công cho kỹ thuật viên.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp tài liệu giá trị cho các nhóm độc giả chuyên ngành sau:

Nhóm chuyên gia địa hóa và kỹ sư khai thác dầu khí: Ứng dụng tỷ số đồng vị 87Sr/86Sr để nhận diện ranh giới nước sinh ra từ vỉa, theo dõi sự thâm nhập của nước biển bơm ép và dự báo sớm nguy cơ ngập lụt giếng khoan.

Nhóm nghiên cứu và kỹ thuật viên hóa phân tích: Tham khảo chi tiết thông số vận hành thiết bị ICP-MS Agilent 7500a, kỹ thuật pha loãng đồng vị với chất đánh dấu 86Sr và phương pháp giải quyết hiện tượng nhiễu phổ trùng khối.

Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Khoa học Hóa học, Địa chất học: Tiếp cận phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm, mô hình xử lý ma trận mẫu chứa hàm lượng muối cao và quy trình thẩm định phương pháp theo tiêu chuẩn ISO/IEC 17025.

Các nhà quản lý mỏ và cơ quan quản lý năng lượng: Sử dụng số liệu đánh giá nguồn gốc nước vỉa để xây dựng chiến lược bơm ép vỉa hợp lý, nâng cao tuổi thọ khai thác và tối ưu hóa hiệu quả kinh tế của các mỏ dầu.

Câu hỏi thường gặp

Tác nhân nào gây sai số lớn nhất khi đo tỷ lệ 87Sr/86Sr trên thiết bị ICP-MS? Sai số lớn nhất xuất phát từ hiện tượng nhiễu trùng khối giữa đồng vị bền 87Rb và 87Sr tại số khối m/z = 87. Do 87Rb chiếm khoảng 30% tổng hàm lượng rubidi trong mẫu, nếu không được tách sạch bằng cột cation Bio-Rad AG50W-X8 với dung dịch HNO3 1,0M, tín hiệu đo được sẽ phản ánh tổng của cả hai đồng vị, làm sai lệch hoàn toàn tỷ lệ địa hóa.

Tại sao phải tách canxi trước khi tiến hành tách rubidi ra khỏi stronti? Mẫu nước giếng khoan có hàm lượng canxi rất cao, đạt trên 134.000 µg/L, gấp hơn 20 lần nồng độ stronti. Khi nồng độ canxi vượt quá 50 ppm, canxi chiếm dụng các vị trí trao đổi trên nhựa cation, làm giảm dung lượng hấp phụ và kéo stronti bị rửa giải sớm cùng phân đoạn với rubidi, làm hỏng quá trình phân tách.

Kỹ thuật pha loãng đồng vị (ID) mang lại ưu thế gì so với phương pháp đường chuẩn thông thường? Kỹ thuật pha loãng đồng vị sử dụng chất đánh dấu đồng vị giàu 86Sr cho phép xác định chính xác tỷ lệ và hàm lượng nguyên tố dựa trên phương trình toán học nội suy. Kỹ thuật này không bị ảnh hưởng bởi sự thất thoát mẫu trong các bước sắc ký hay sự thay đổi độ nhạy của đầu dò phổ khối theo thời gian.

Môi trường 95% metanol có vai trò quyết định gì trong cột tách anion? Trong môi trường cồn 95% metanol chứa HNO3 0,25M, hằng số điện môi giảm làm gia tăng khả năng tạo phức nitrato anion của stronti với nhóm chức amin bậc bốn trên nhựa Bio-Rad AG1-X8. Ngược lại, canxi không tạo phức bền trong điều kiện này nên dễ dàng bị rửa trôi ra khỏi cột trước.

Làm thế nào để phân biệt nước biển bơm ép và nước nguyên sinh trong giếng khoan bằng chỉ số 87Sr/86Sr? Nước biển có tỷ số đồng vị 87Sr/86Sr ổn định ở mức 0,7092 với nồng độ Sr khoảng 8 mg/L. Trong khi đó, nước vỉa nguyên sinh tiếp xúc lâu năm với các tầng đá móng nứt nẻ hoặc đá trầm tích thường có tỷ số đặc trưng khác biệt (dao động từ 0,707 đến 0,730). Việc đối chiếu giá trị đo được giúp xác định chính xác tỷ lệ pha trộn giữa hai nguồn nước.

Kết luận

  • Đã thiết lập thành công quy trình xử lý và tách loại tạp chất liên hoàn bằng hai hệ cột sắc ký trao đổi ion Bio-Rad AG1-X8 và AG50W-X8, loại bỏ triệt để canxi và rubidi ra khỏi stronti.
  • Tối ưu hóa điều kiện đo trên hệ thống khối phổ ID-ICP-MS với công suất RF 1450W, đạt hiệu suất thu hồi stronti 98,3% và độ lặp lại cao với RSD dưới 0,25%.
  • Kiểm chứng độ đúng trên mẫu chuẩn quốc tế NIST SRM 987 cho kết quả 0,71024, hoàn toàn tương thích với giá trị chứng nhận tiêu chuẩn.
  • Ứng dụng phân tích thành công trên các mẫu nước giếng khoan khai thác (PW), nước chiết đá dầu (EW) và mẫu dầu quốc tế, phân định rõ nét nguồn gốc nước tầng móng và nước bơm ép.
  • Đóng góp một phương pháp phân tích kinh tế, độ chính xác tương đương TIMS nhưng rút ngắn thời gian phân tích, sẵn sàng chuyển giao cho các phòng kiểm nghiệm địa hóa dầu khí.

Để áp dụng quy trình ID-ICP-MS này vào thực tế giám sát mỏ hoặc tra cứu chi tiết các thông số kỹ thuật phân tách mẫu địa chất, quý đơn vị và các nhà nghiên cứu có thể liên hệ trực tiếp bộ phận chuyên môn của Viện Dầu khí Việt Nam hoặc Khoa Hóa học - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên để nhận tài liệu hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật.