Chương 1, giới thiệu tổng quan về luận văn nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc của bài luận văn. Chương 2, trình bày tổng quan các nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và các yếu tố kinh tế vĩ mô cơ bản. Chương 3, nêu phương pháp và cách thực hiện đề tài bao gồm xử lý dữ liệu và phương thức thực hiện. Chương 4, thực hiện phân tích dữ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu.
Chương 5, tổng kết kết quả đạt được đồng thời nêu lên những hạn chế của luận văn và gợi mở những hướng nghiên cứu trong tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ CƠ BẢN. Kể từ nghiên cứu của Balassa và Samuelson (1964) cho rằng sự gia tăng tương đối lớn hơn trong năng suất của hàng hóa mậu dịch so với khu vực hàng hóa phi mậu dịch dẫn đến sự đánh giá cao đồng nội tệ, hàng loạt các nghiên cứu được tiến hành để chứng minh mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản. Đã có một khối lượng lớn các nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ tỷ giá hối đoái và các nhân tố vĩ mô cơ bản.
Những mô hình lý thuyết đầu tiên phát triển chủ yếu vào những năm 1970 như: mô hình tiền tệ (Frenkel, 1976, 1979; Mussa, 1976; Bilson, 1978); mô hình tiền tệ giá cứng của Dornbusch, 1976 và mô hình cân bằng danh mục đầu tư (Dornbusch và Fischer, 1980; Campbell và Viceira, 2002). Những mô hình thuộc "thế hệ đầu tiên" này phần lớn tập trung vào mối quan hệ tuyến tính giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa và các nhân tố vĩ mô (như mức cung tiền, giá cả, sản lượng hay tài khoản vãng lai). Tuy nhiên, qua các nghiên cứu thực nghiệm, những mô hình thuộc "thế hệ đầu tiên" này không còn đúng đối với nghiên cứu thực nghiệm đặc biệt là nghiên cứu tiến hành ở các nước có lạm phát tương đối thấp, kể từ đó mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố vĩ mô cơ bản đã thu hút các nhà nghiên cứu khám phá trong thực nghiệm. Vấn đề các nhân tố kinh tế vĩ mô cơ bản có thể giải thích sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái như thế nào đã thu hút khá nhiều nghiên cứu của các tác giả, tuy nhiên có hai hướng nghiên cứu chính giải thích cho mối quan hệ này.
Một theo hướng phân tích yếu tố tỷ giá hối đoái danh nghĩa và hướng nghiên cứu còn lại tập trung vào tỷ giá hối đoái thực. Tất cả những nghiên cứu theo hướng phân tích yếu tố tỷ giá hối đoái danh nghĩa của các tác giả đều có một điểm chung là tìm thấy mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa và các nhân tố vĩ mô cơ bản. Tuy nhiên, xu TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 hướng của các nghiên cứu cho đến thời điểm hiện tại về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố vĩ mô cơ bản chỉ tập trung vào mối liên hệ đồng liên kết tuyến tính, vẫn còn rất ít trường hợp chú ý đến mối quan hệ phi tuyến. Dưới đây là một vài nghiên cứu điển hình về mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa và các yếu tố vĩ mô cơ bản.1 Các nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa và các yếu tố vĩ mô cơ bản.
Đầu tiên, trong các nghiên cứu thực nghiệm của Meese và Rogoff (1983) đã chỉ ra rằng mô hình bước ngẫu nhiên (random walk) cho kết quả dự báo tốt hơn so với các mô hình tuyến tính “thế hệ đầu tiên”, phát hiện của hai tác giả này chỉ ra rằng hệ số của các biến kinh tế vĩ mô cơ bản trong phương trình tỷ giá hối đoái của các mô hình tiền tệ liên quan đến sự thay đổi cấu trúc thường xuyên, do đó làm cho những mô hình thế hệ đầu tiên này không còn thích hợp cho mục đích dự báo. Kể từ sau nghiên cứu của Meese và Rogoff (1983) phát hiện ra sự thất bại của mô hình tỷ giá hối đoái tuyến tính, một vài nghiên cứu của rất nhiều tác giả khác cũng đã cung cấp thêm các bằng chứng thực nghiệm về sự thất bại của mô hình tuyến tính này và tìm thấy mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa và các nhân tố vĩ mô cơ bản. Baxter và Stockman (1989), Flood và Rose (1995) cũng tìm thấy các bất thường trong các mô hình tiền tệ, các tác giả này tìm thấy rằng: kể từ khi bắt đầu chế độ tỷ giá thả nỗi sự thay đổi của tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá thực đã tăng lên đáng kể. Đồng thời, các nghiên cứu cũng không tìm thấy được bằng chứng nào cho thấy có sự thay đổi đáng kể của các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản như đề cập trong các mô hình lý thuyết khi so với thời kỳ tỷ giá cố định.
Điều này mâu thuẩn so với lý thuyết của những mô hình “thế hệ đầu tiên”, trong khi lý thuyết ở những mô hình thế hệ đầu tiên cho rằng sự thay đổi của tỷ giá hối đoái chỉ có thể gia tăng khi sự thay đổi của các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản gia tăng. Điều này dẫn đến kết luận rằng sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái không chịu sự tác động của các biến số kinh tế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 vĩ mô cơ bản. Trong nghiên cứu của mình, hai tác giả Obstfeld và Rogoff, 2000 cũng xác định rằng vấn đề này là một trong 6 “câu đố” trong kinh tế vĩ mô quốc tế. Điển hình như nghiên cứu thực nghiệm của Meese và Rose (1991) về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa và các yếu tố vĩ mô cơ bản cho các nước lớn thuộc tổ chức OECD là Canada, Đức, Nhật và Anh dựa trên dữ liệu tháng giai đoạn từ 1974- 1987.
Năm mô hình lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái cũng được hai tác giả đưa ra xem xét trong bài nghiên cứu bao gồm 3 mô hình tiền tệ “thế hệ đầu tiên”, mô hình thứ tư là mô hình của Lucas, 1982 và mô hình cuối cùng của Hodrick, 1988 và định lượng cho mối quan hệ phi tuyến ở các mô hình này thông qua 3 phương cách thức khác nhau. Mối quan hệ phi tuyến tiềm tàng cũng được khám phá thông qua các kỹ thuật tham số và phi tham số khác nhau cũng như việc sử dụng thuật toán ACE để chuyển đổi biến. Yue Ma và Angelos Kanas (2000) đã sử dụng hai phương pháp thử nghiệm phi tham số để kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa và các nhân tố vĩ mô cơ bản cho hai cặp nước: Hà Lan- Đức và Pháp- Đức. Thử nghiệm đầu tiên là kiểm định đồng liên kết phi tuyến phát triển bởi Granger và Hallman (1991) và Breiman và Friedman (1985), kiểm định này nhằm xem xét mối quan hệ phi tuyến dài hạn giữa tỷ giá hối đoái và các nhân tố vĩ mô cơ bản.
Trong quy trình kiểm định này, tác giả sử dụng thuật toán xen kẻ kỳ vọng có điều kiện ACE để chuyển đổi các biến, là một phương pháp dùng để ước lượng các biến đổi tối ưu cho hàm hồi quy bội nhằm tối đa hệ số tương quan bội R2. Quy trình kiểm định này trải qua hai giai đoạn theo đề xuất trong nghiên cứu của Granger và Hallman, 1991. Đầu tiên, kiểm định tính dừng các biến sau chuyển đổi qua thuật toán ACE bằng kiểm định nghiệm đơn vị. Tiếp theo, tác giả kiểm tra tính đồng liên kết của các biến sau chuyển đổi để đi đến kết luận mối quan hệ phi tuyến của các biến trước chuyển đổi.
Thử nghiệm thứ hai là kiểm định nhân quả phi tuyến Granger được giới thiệu bởi Baek và Brock, 1992 và được bổ sung bởi Hiemstra và Jones, 1994, với mục đích TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 khám phá ra mối quan hệ động phi tuyến giữa tỷ giá và các nhân tố vĩ mô cơ bản bằng cách kiểm tra xem liệu rằng các giá trị quá khứ của biến số đại diện cho các nhân tố vĩ mô cơ bản có ảnh hưởng đến các giá trị hiện tại và tương lai của tỷ giá hay không. Quy trình thử nghiệm thứ hai này gồm 4 bước sau: Bước 1: Dùng kiểm định nghiệm đơn vị để xác định bậc tích hợp của các chuỗi biến, nếu các chuỗi là không dừng, chuyển qua bước 2, ngược lại chuyển qua bước 4. Bước 2: Kiểm tra tham số tuyến tính và đồng liên kết phi tham số theo phương pháp của Johansen, 1988 và Bierens, 1997a, b. Nếu kết quả cho thấy không có đồng liên kết xảy ra, các tác giả chuyển sang bước 3.
Ngược lại chuyển sang bước 4. Bước 3: Kết quả cho thấy không có đồng liên kết tuyến tính thì kiểm định tiếp đồng liên kết phi tuyến, nếu điều này xảy ra thì đây là bằng chứng về mối quan hệ dài hạn, ngược lại chuyển sang bước 4. Bước 4: Áp dụng kiểm định nhân quả phi tuyến Granger theo phương pháp của Baek và Brock, 1992 cho phần dư từ mô hình VAR. Mục đích của việc kiểm định phần dư từ mô hình VAR là để loại bỏ tất cả các cấu trúc tuyến tính trong mô hình, hơn nữa bởi vì kiểm định yêu cầu chuỗi phần dư phải dừng, khi đó cần xem xét kỹ là mô hình VAR được xây dựng từ các chuỗi gốc hay chuỗi sai phân bậc 1.
Dựa trên kết quả 3 bước đầu tiên, nếu kết quả ở bước 1 cho thấy các chuỗi biến là dừng hoặc tác giả tìm thấy có mối quan hệ đồng liên kết tuyến tính ở bước 2, tác giả sẽ ước lượng mô hình VAR với các chuỗi biến gốc, nếu kết quả cho thấy không có mối quan hệ đồng liên kết phi tuyến ở bước 3, tác giả sẽ ước lượng mô hình VAR với các chuỗi sai phân bậc 1. Cuối cùng, để bác bỏ kết luận tính mối quan hệ phi tuyến gây ra là do các bong bóng trên thị trường, tác giả sử dụng mô hình ARFIMA để kiểm tra bậc tích hợp không nguyên cho tất cả các chuỗi thời gian.