Chương 1: Cơ sở lý luận về tuyển dụng công chức trong tổ chức Chương 2: Thực trạng tuyển dụng công chức tại Bộ Giáo dục và Thể thao Lào Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tuyển dụng công chức tại Bộ Giáo dục và Thể thao Lào. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC TRONG TỔ CHỨC 1. Công chức Công chức (CC) là một khái niệm mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi quốc gia, là bộ phận nhân lực chủ yếu trong hoạt động quản lý Nhà nước. Năng lực và hiệu quả hoạt động Nhà nước nói chung, của nền hành chính Nhà nước nói riêng suy cho cùng được quyết định bởi trình độ năng lực và phẩm chất của người công chức [16].
Công chức được hiểu chung nhất là những người thực thi công vụ, hoạt động của công chức mang tính quyền lực Nhà nước hoặc phục vụ cho việc ban hành các quyết định quản lý Nhà nước, của xã hội làm mục tiêu, căn cứ, tiêu chuẩn cho hành vi của mình. Với những giai đoạn lịch sử nhất định thuật ngữ công chức cũng mang những nội dung khác nhau. Theo kinh nghiệm của các quốc gia đã thực hiện chế độ công chức, thì công chức được hiểu là những công dân được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay nước ngoài, được xếp vào một ngạch và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Với quan niệm như thế để trở thành người công chức cần thỏa mãn điều kiện sau: - Là công dân của nước đó.
- Được tuyển dụng bằng hình thức thi tuyển. - Giữ một công vụ thường xuyên. - Được xếp vào ngạch, một ngành chuyên môn. - Làm việc trong một công sở.
- Lĩnh lương từ ngân sách nhà nước. + Khái niệm công chức của một số nước trên thế giới: Một số nước, CC chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động quản lý Nhà nước. Có những nước, ngoài những người thực hiện trực tiếp các hoạt động 8 quản lý Nhà nước, CC còn được áp dụng cho những người làm trong các cơquan dịch vụ công. Ở Trung Quốc: Là quốc gia đông dân nhất thế giới và đang phát triển rất nhanh ở châu Á.
Trước đây Trung Quốc áp dụng chế độ quản lý nhân sự theo cơ chế “cán bộ”, áp dụng một khuôn mẫu chung để quản lý mà không phân biệt những người làm công tác Đảng, công tác chính quyền và làm trong doanh nghiệp. Để đổi mới hoạt động của bộ máy Nhà nước, thích ứng với nhu cầu cải cách, mở cửa, Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XIII năm 1989 đã quyết định xây dựng một chế độ CC Nhà nước kiểu mới ở Trung Quốc và bàn “điều lệ tạm thời về CC” ra đời. Theo Điều lệ tạm thời về CC năm 1993 của Trung Quốc thì CC Nhà nước là “những nhân viên công tác trong cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ” [15]. Năm 2005 Quốc hội khóa X của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã thông qua Luật công vụ (có hiệu lực tháng 1/2006) và Điều 2 luật này quy định: CC là những người thi hành những nhiệm vụ công theo pháp luật quy định, làm việc trong các cơ quan hành chính của Nhà nước và hưởng lương cùng các khoản phúc lợi của họ do ngân sách Nhà nước trả.
Ở Pháp: Luật chung về công chức năm 1946 và năm 1959 chỉ được áp dụng cho CC Nhà nước Trung ương, không liên quan đến CC địa phương. Năm 1981 sau khi Đảng xã hội lên cầm quyền, mở rộng quyền hạn của địa phương, nên đến năm 1983 - 1984 khi ban hành luật chung về CC hiện nay đã gộp cả CC địa phương vào. Như vậy, ở Pháp những người hoạt động công vụ bao gồm “toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ (vùng, tỉnh, công xã) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một công sở (service public) hay một công sở tự quản và được biên chế vào một ngạch của nền hành chính công” [15]. Theo quan niệm như vậy, CC ở Pháp chia làm 3 loại: - CC trong các ngạch hành chính Nhà nước.
- CC thuộc cộng đồng lãnh thổ, trực thuộc cõ quan chính quyền địa phương. - CC trực thuộc các công sở tự quản. 9 Trong 3 loại CC trên chỉ có CC trong ngạch hành chính Nhà nước được coi là CC Nhà nước. Không phải toàn bộ những nhân viên hành chính đều bị chi phối bởi luật CC mà chỉ là những người đảm nhiệm các chức vụ thường xuyên, còn các đối tượng khác bị chi phối chủ yếu là luật lao động, các văn bản hợp đồng, luật từ chức và họ không được hưởng các bảo đảm đặc biệt về mặt chức nghiệp.
Như vậy ở Pháp ngoài lực lượng CC như đã nêu ở trên còn một số những người làm việc trong các cơ quan thực thi công vụ nhưng không phải là CC. Việc tuyển dụng cho cả 3 loại công chức trên đều được thực hiện theo phương thức thi tuyển, người trúng tuyển sẽ được đảm nhiệm ở bậc thấp nhất và dần dần được thăng tiến lên những bậc cao hơn [15]. Ở Thái Lan: Là một quốc gia quân chủ lập hiến ở Đông Nam Á, theo Luật Công vụ của Thái Lan thì “CC là người được phân công và được bổ nhiệm một công việc của Chính phủ và nhận lương phù hợp ở một bộ, cơ quan Nhà nước hay cơ quan thuộc Chính phủ” [15]. Luật CC hiện hành ở Thái Lan đã loại trừ các chức danh và quan chức chính trị ra khỏi quy định của luật công vụ, đồng thời cấm các công chức không được trở thành các quan chức chính trị.
Đội ngũ công chức ở Thái Lan được chia thành 3 nhóm chính: Một là, CC thường trực, bao gồm các CC trong công vụnhận lươngtừ quỹ công vụ thường xuyên và được bổ nhiệm theo quy định. Hai là , các quan chức phục vụ trong Hoàng Gia, bao gồm các CC được bổ nhiệm vào các chức vụ phục vụ Hoàng Gia được ghi trong quy định về Hoàng Gia. Ba là, các quan chức phục vụ đối ngoại đặc biệt, bao gồm các CC được bổ nhiệm trong các trường hợp đặc biệt về lý do chính trị đối với các vị trí công tác ở nước ngoài được quy định riêng [15]. Ở Việt Nam: Ngay từ năm đầu tiên của chính quyền cách mạng, CC đã được xác định theo Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt 10 Nam dân chủ cộng hòa ban hành quy chế công chức, là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định [5].
Tuy nhiên, trong một thời gian dài do điều kiện chiến tranh ở Việt Nam, việc phân định công chức cũng chưa rõ ràng, nói chung những người làm việc trong hệ thống chính trị đều gọi chung là CB, CC. Đến thập kỷ 90, khái niệm CC đã được xác định rõ hơn trong các Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991, Nghị quyết số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ và Pháp lệnh cán bộ, công chức ban hành ngày 26/2/1998. Theo quy định của pháp luật hiện hành, phạm vi những người làm việc cho bộ máy Nhà nước của Việt Nam là rất rộng. Tuy nhiên không phải tất cả họ đều được coi là công chức.
Theo tinh thần của Nghị định số 117/2003/NĐ- CP ngày 10/10/2003 của chính phủ về tuyển dụng và quản lý CB, CC trong các cơ quan Nhà nước, CC bao gồm những đối tượng sau: Là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, gồm: Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch CC hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan Nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp làm việc trong các cơ quan Nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức - xã hội sau đây: + Văn phòng Quốc hội; + Văn phòng Chủ tịch nước; 11 + Cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; + Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp; + Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; + Đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân; + Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện [6]. Trước yêu cầu cải cách bộ máy Nhà nước, ngày 13/11/2008 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua và ban hành Luật cán bộ, công chức có hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Luật này đã phân định rõ đối tượng CB, CC và tách biệt với đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập do Luật viên chức điều chỉnh (có hiệu lực từ ngày 01/01/2012). Theo quy định của Luật cán bộ, công chức thì "Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngânsách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [16].