Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO GIẢNG VIÊN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Giảng viên Theo từ điển Việt-Lào: “Giảng viên là tên gọi chung những người làm công tác giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng, ở các lớp đào tạo, huấn luyện cán bộ. Ở các trường đại học và cao đẳng, GV là chức danh của những người làm công tác giảng dạy thấp hơn phó giáo sư” [14].
Trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta có các cấp học: “Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học. Trong đó, Giáo dục đại học và sau đại học đế tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ. Tương ứng với mỗi cấp học, nhà giáo sẽ có tên gọi khác nhau”. Theo Đại từ điển tiếng Việt, “Giảng viên là người giảng dạy tại trường đại học hay lớp huấn luyện cán bộ”.624] Như trên, có thể nhận thấy giảng viên là những cá nhân đòi hỏi phải có những phẩm chất tốt cả về trí tuệ, tinh thần, đồng thời cũng là những người có phẩm chất tốt xứng đáng làm gương cho mọi người noi theo.
Giảng viên cũng được nhà nước và pháp luật đòi hỏi rất cao về bằng cấp, trình độ học vấn để có thể đào tạo nên thế hệ tương lại của tổ quốc, để hỗ trợ những sinh viên có thể vững bước vào đời. Ở Lào giảng viên là những cá nhân có chuyên môn sâu ở một hoặc một số môn nhất định với công việc là giảng dạy, hỗ trợ, chấm điểm cho sinh viên ở những trường đại học, cao đẳng. Giảng viên ở Việt Nam và Lào cũng không có quá nhiều sự khác biệt như việc giảng dạy bài giảng trên trường, lớp cho sinh viên ở các trường Đại học, cao đẳng. Giảng dạy theo nội dung, chương trình đào tạo mà Bộ Giáo dục, Nhà nước đã quy định.
Tích lũy kiến thức, nghiên cứu chuyên sâu về chuyên môn của bản thân. Tham giả, chủ trì, hướng dẫn các đề tài nghiên cứu 10 khoa học. Hướng dẫn sinh viên làm luận án, đề tài, khóa luận tốt nghiệp, nghiên cứu khoa học. Thực hiện tốt các quy định của pháp luật.
Nhu cầu, động cơ “Nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về mặt vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả [Tức là hệ quả của việc thực hiện nhu cầu] trở nên hấp dẫn hơn”.127] "Nhu cầu" là những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, như thức ăn, nước uống, chỗ ở, quần áo, phương tiện đi lại, y tế, giáo dục và các nhu cầu xã hội. Nhu cầu là những yêu cầu cơ bản để tồn tại và phát triển mà mỗi con người cần phải đáp ứng để có một cuộc sống khỏe mạnh và trọn vẹn. Nhu cầu cơ bản bao gồm các nhu cầu sinh lý như thức ăn, nước uống và nơi ở cũng như các nhu cầu tâm lý và cảm xúc như tình yêu, tình cảm và cảm giác thân thuộc. Đáp ứng nhu cầu cơ bản của một người là điều cần thiết cho sức khỏe tổng thể, vì nó giúp giảm căng thẳng và cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần.
Theo Trần Kim Dung thì “Động cơ trong nghề nghiệp là những quan tâm hay giá trị mà con người không muốn từ bỏ một khi họ đã có sự lựa chọn, nó được phát triển và là sản phẩm của quá trình tự khám phá về chính bản thân con người”.188] Động cơ nghề nghiệp là những sở thích, giá trị và mục tiêu có ảnh hưởng và hướng dẫn sự lựa chọn cũng như hành động của một người nào đó trong sự nghiệp của họ. Nó được phát triển thông qua quá trình tự khám phá và suy ngẫm, đồng thời có thể được định hình bởi nhiều yếu tố bên ngoài khác nhau, chẳng hạn như gia đình, văn hóa và môi trường kinh tế xã hội. Động lực nghề nghiệp có thể mang lại cho một cá nhân ý thức về định hướng và mục đích trong công việc, thúc đẩy niềm đam mê và thúc đẩy họ thành công và thành công trong sự nghiệp. Bằng cách hiểu và khai thác động lực nghề nghiệp của mình, một cá nhân có thể định hướng hành trình nghề nghiệp của mình với mục đích, sự thỏa mãn và tác động lớn hơn.
Động lực lao động Khái niệm “động lực lao động” được một số tác giả nghiên cứu. Theo như: Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân cho rằng: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [4; tr 134]. Theo Trương Đức Thao (2017), động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của chủ thể trong việc thực hiện các hành vi nhằm đạt được mục tiêu của mình gắn liền với mục tiêu của tổ chức [20]. Nguyễn Thị Phương Lan (2015) cho rằng, động lực lao động là sự thúc đẩy từ bên trong chủ thể hoặc do sự tác động từ bên ngoài tới chủ thể khiến họ tự nguyện, nỗ lực, phấn đấu vì mục tiêu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất, qua đó góp phần nâng cao năng suất, hiệu quả, sự thành công của tổ chức [12].
Từ các quan niệm trên, có thể khái quát, động lực lao động là sự thúc đẩy khiến cho con người nỗ lực lao động trong điều kiện cho phép tạo năng suất và hiệu quả lao động cao, nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động. Theo giáo trình Quản trị nhân lực thì: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”[5, tr. Động lực lao động là sự sẵn lòng của nhân viên trong việc tự nguyện đóng góp nỗ lực và lao động để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Động lực này được thúc đẩy bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong, chẳng hạn như mục tiêu, giá trị và lợi ích cá nhân, cũng như các yếu tố bên ngoài, như môi trường lao động, văn hóa công ty, các phần thưởng và sự công nhận.
Khi nhân viên được thúc đẩy đóng góp vào sự thành công của tổ chức, họ có nhiều khả năng thể hiện đạo đức lao động mạnh mẽ, đảm nhận các nhiệm vụ bổ sung, thể hiện sự chủ động và phấn đấu để đạt được sự xuất sắc. Còn theo giáo trình Hành vi tổ chức thì: “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực lao động trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao 12 động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê lao động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [27, tr.85] Động lực lao động là yếu tố quan trọng giúp đảm bảo năng suất và hiệu quả tại nơi lao động. Động lực này có thể có nhiều hình thức bao gồm sự sẵn sàng lao động chăm chỉ, niềm đam mê đạt được, ý thức làm chủ và cam kết, đạo đức lao động tích cực.
Những thuộc tính này có thể giúp nhân viên lao động tích cực, hào hứng, từ đó sẽ tạo ra những đóng góp vào sự thành công của tổ chức, cuối cùng mang lại lợi ích cho cả nhân viên và tổ chức. Động lực trong công việc đề cập đến mức độ cam kết và sẵn sàng của nhân viên vượt ra ngoài việc chỉ làm những công việc tối thiểu trong công việc của NLĐ. Đó là một yếu tố quan trọng trong việc giữ chân nhân viên, năng suất và sự hài lòng trong công việc. Việc thiếu động lực có thể dẫn đến sự thảnh thơi, không hài lòng và kiệt sức.
Để đảm bảo nhân viên có động lực, điều quan trọng là phải tạo ra một môi trường cung cấp công việc có ý nghĩa, sự công nhận, cơ hội phát triển và ý thức về mục đích. Điều quan trọng nữa là cung cấp hỗ trợ và khuyến khích, đồng thời thúc đẩy văn hóa lao động tích cực khuyến khích sự hợp tác và giao tiếp cởi mở giữa các cá nhân trong tổ chức và giữa người lao động và nhà quản lý. Tạo động lực lao động cho giảng viên Từ các khái niệm đã phân tích, có thể định nghĩa: Tạo động lực lao động cho giảng viên đại học là sự thúc đẩy khiến cho giảng viên đại học nỗ lực lao động trong điều kiện cho phép tạo năng suất và hiệu quả lao động cao, nhằm đạt được mục tiêu của bản thân người giảng viên gắn liền với đạt mục tiêu của trường đại học. Tạo động lực lao động cho giảng viên là tập hợp các chiến lược, phương pháp mà ban giám hiệu thực hiện nhằm khuyến khích và truyền cảm hứng cho giảng viên thực hiện công việc của họ một cách hiệu quả, chất lượng, sáng tạo, năng suất.
Những công cụ tạo động lực này có thể bao gồm việc đưa ra các phần thưởng và sự công nhận, mang lại cơ hội học tập, phát triển, thúc đẩy môi trường lao động tích cực và đưa ra cách đối xử 13 công bằng và không phân biệt đối xử. Những hệ thống tạo động lực như vậy có thể có tác động ngay lập tức và lâu dài đến tinh thần, hiệu suất và quan điểm đối với công việc của nhân viên, dẫn đến cải thiện năng suất và thành công của trường. Việc thực hiện công tác tạo động lực cho giảng viên bao gồm việc sử dụng một loạt chính sách, biện pháp, phương pháp và chiến lược quản lý để khuyến khích và động viên giảng viên trong công việc của họ, thúc đẩy sự tham gia, tính sáng tạo và năng suất chung của họ trong lớp học. Phương pháp quản lý này nhằm mục đích phát huy toàn bộ tiềm năng của giảng viên để tận dụng hiệu quả kiến thức và kỹ năng của họ nhằm giáo dục sinh viên một cách hiệu quả.
Thông qua cách tiếp cận này, giảng viên cảm thấy được sự công nhận và hỗ trợ trong vai trò là nhà giáo của mình, điều này có thể giúp cải thiện hiệu suất và sự nhiệt tình khi tham gia các sự kiện của nhà trường. Để dẫn đến mục tiêu cao nhất là đảm bảo chất lượng của học sinh. Một khi giảng viên được động viên và truyền cảm hứng, họ sẽ nâng cao hiệu quả và năng suất lao động của mình. Những giáo viên có động lực, thành thạo trong công việc giảng dạy, có thể đóng góp đáng kể vào sự phát triển thành công của nhà trường.
Hệ thống tạo động lực rất cần thiết để hỗ trợ một môi trường công tác hoạt động của giảng viên hoạt động hiệu quả.