CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về bệnh lao. Định nghĩa bệnh lao Bệnh lao là một bệnh lây nhiễm gây ra bởi vi khuẩn lao Mycobacterium Tuberculosis. Thường gặp nhất ở phổi chiếm 80-85%, nhưng có thể xảy ra ở các cơ quan khác của cơ thể và là nguồn lây chính cho người xung quanh (8, 9).
Bệnh lao là một trong những bệnh gây chết người hàng đầu nếu không được điều trị thích hợp. Vi khuẩn lao được phát tán trong không khí khi người mắc bệnh lao ho, hắt hơi, nói chuyện. Những người ở gần có thể hít phải các hạt khí có mang vi khuẩn lao và bị nhiễm lao. Tuy nhiên không phải tất cả những người hít phải hạt khí có mang vi khuẩn lao đều mắc bệnh lao.
Chỉ một phần nhỏ của những người bị nhiễm lao mới phát triển thành bệnh lao. Những người bị nhiễm vi khuẩn lao nhưng không mắc bệnh được gọi là người nhiễm lao tiềm ẩn. Ước tính khoảng 1/3 dân số thế giới nhiễm lão tiềm ẩn. Nếu hệ thống miễn dịch không thể ngăn cản vi khuẩn lao phát triển, vi khuẩn bắt đầu phát triển trong cơ thể và gây bệnh lao.
Vi khuẩn lao tấn công cơ thể và phá hủy các mô. Nếu điều này xảy ra ở phổi, vi khuẩn lao có thể tạo hang lao ở phổi. Ở một số người, bệnh lao phát triển sơm sau khi vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể trong một tuần. Những người khác có thể bị lao sau nhiều năm, khi hệ miễn dịch của họ yếu đi.
Trẻ sơ sinh và trẻ em có hệ miễn dịch yếu, những người nhiễm HIV, virus gây bệnh AIDS có hệ thống miễn dịch rất yếu. Bệnh lao phổi có thể gây nên những triệu chứng sau: - Ho kéo dài trên 02 tuần (ho khan, ho có đờm, ho ra máu) là triệu chứng nghi lao quan trọng nhất. Ngoài ra còn có một số triệu chứng khác: - Gầy sút, kém ăn mệt mỏi. - Sốt nhẹ về chiều.
- Ra mồ hôi trộm ban đêm. - Đau ngực, đôi khi khó thở. Vi khuẩn lao Vi khuẩn lao có tên khoa học là Mycobacterium Tuberculosis, là vi khuẩn hiếu khí hoặc vi hiếu khí, thường có dạng trực khuẩn mảnh hơi cong, không di động, kích thước 0,2-0,6 x 1. Ở điều kiện tự nhiên, vi khuẩn lao có thể tồn tại 3-4 tháng, trong phòng thí nghiệm, người ta có thể bảo quản vi khuẩn lao nhiều năm, dưới ánh sáng mặt trời, vi khuẩn lao chết trong vòng 1,5 giờ, khi chiếu tia cực tím chúng tồn tại 2-3 phút.
Ở nhiệt độ 420C vi khuẩn lao ngừng phát triển, chết sau 10 phút ở 800C. Đờm của bệnh nhân lao phổi AFB (+) để trong phòng tối ẩm sau 3 tháng vi khuẩn vẫn tồn tại và giữ được độc lực (10). Như vậy vi khuẩn lao tồn tại được lâu trong môi trường ẩm thấp thiếu ánh sáng, đây chính là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn lao phát triển. Nguy cơ nhiễm bệnh lao Bệnh lao lan truyền qua đường hô hấp, vi khuẩn lao có trong các giọt nước bọt trong không khí, từ chất tiết khi ho, nhảy mũi, nói chuyện hay khạc nhổ của người nhiễm vi khuẩn lao.
Tiếp xúc gần thường xuyên với người mắc lao và nguy cơ nhiễm bệnh cao nhất khoảng 22%, nhưng có thể đến 100% (11). Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh lao, đặc biệt lao phổi bao gồm: - Hút thuốc lá: Hút thuốc lá sẽ làm tăng nguy cơ mắc lao phổi lên tới trên 80% với người không hút thuốc lá. Theo báo cáo của Chương trình phòng chống tác hại thuốc lá quốc gia, hút thuốc lá là nguyên nhân chính gây bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, hen phế quản và bệnh lao. Nguyên nhân là do những người thường xuyên hút thuốc lá sẽ làm giảm khả năng chống lại vi khuẩn xâm nhập vào phổi do đó rất dễ bị khuẩn lao tấn công và gây bệnh.
- Uống rượu thường xuyên: Nghiện rượu làm giảm chức năng của hệ miễn dịch, tạo điều kiện thuận lợi cho trực khuẩn lao phát inh, phát triển và gây bệnh vì vậy người uống rượu thường xuyên/nghiện rượu có nguy cơ mắc lao cao hơn người khác - Làm việc quá sức: Làm việc quá sức tạo điều kiện cho các loại vi trùng như vi trùng lao tấn công và gây bệnh. 6 - Thói quen bảo hộ kém: không sử dụng đồ bảo hộ lao động hay không đeo khẩu trang trong khi đi ra ngoài tạo điều kiện cho bụi không khí ô nhiễm có chứa vi khuẩn, vi sinh vật gây hại có thể xâm nhập vào cơ thể thông qua hoạt động hô hấp của con người, nguy cơ mắc bệnh lao phổi. - Suy đinh dưỡng: là một yếu tố nguy cơ quan trọng đối với bệnh lao, người bị thiếu cân (BMI<18) nguy cơ nhiễm lao cao gấp 2,6 lần so với những người không thiếu cân. Chẩn đoàn bệnh lao (9) * Dựa vào lâm sàng Toàn thân: sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi đêm, chán ăn, mệt mỏi, gầy sút cân.
Cơ năng: ho, khạc dòm, ho ra máu, đau ngực, khó thở. Thực thể: nghe phổi có thể có tiếng bệnh lý (ran ẩm, ran nổ,. * Dựa vào cận lâm sàng Nhuộm soi đờm trực tiếp tìm AFB: tất cả những người có triệu chứng nghi lao phải được xét nghiệm đờm phát hiện lao phổi. Để thuận lợi cho người bệnh có thể chẩn đoán được trong ngày đến khám bệnh, xét nghiệm 2 mẫu đờm tại chỗ cần được áp dụng thay cho xét nghiệm 3 mẫu đòm như trước đây.
Mẫu đờm tại chỗ cần được hướng dẫn cẩn thận để người bệnh lấy đúng cách, thời điểm lấy mẫu 1 và mẫu 2 phải cách nhau ít nhất là 2 giờ. Xét nghiệm Xpert MTB/RIF cho kết quả sau khoảng 2 giờ với độ nhậy và độ đặc hiệu cao. Các trường hợp AFB(+) cần được làm xét nghiệm Xpert để biết tình trạng kháng thuốc Rifampicin trước khi cho phác đồ thuốc chống lao hàng 1. Nuôi cấy tìm vi khuẩn lao: nuôi cấy trên môi trường đặc cho kết quả dương tính sau 3-4 tuần.
Nuôi cấy trong môi trường lỏng (MGIT - BACTEC) cho kết quả dương tính sau 2 tuần. Các trường hợp phát hiện tại các bệnh viện tuyến tỉnh nên được khuyến khích xét nghiệm nuôi cấy khi có điều kiện. X-Quang phổi thường quy: hình ảnh trên phim X-quang gợi ý lao phổi tiến triển là thâm nhiễm, nốt, hang, có thể thấy hình ảnh co kéo ở 1/2 trên của phế trường, có thể 1 bên hoặc 2 bên. Ở người có HIV, hình ảnh X-quang phổi ít thấy hình hang, hay gặp tổn thương tổ chức kẽ và có thể ở vùng thấp của phổi.
X-quang 7 phổi có giá trị sàng lọc cao với độ nhậy trên 90% với các trường hợp lao phổi AFB(+). Cần tăng cường sử dụng X-quang phổi tại các cơ sở y tế cho các trường hợp có triệu chứng hô hấp để sàng lọc lao phổi. Tuy nhiên cần lưu ỷ độ đặc hiệu không cao, nên không khẳng định chẩn đoán lao phổi chỉ bằng 1 phim X-quang phổi. X-quang phổi còn có tác dụng đánh giá đáp ứng với điều trị thử bằng kháng sinh thông thường trước khỉ chẩn đoán lao phổi không có bằng chứng vi khuẩn và để đánh giá kết quả điều trị lao sau 2 tháng và kết thúc điều trị.
* Chẩn đoán xác định Lao phổi AFB (+): có ít nhất 1 mẫu đờm hoặc dịch phế quản, dịch dạ dày có kết quả soi trực tiếp AFB (+). Lao phổi AFB (-): khi có ít nhất 2 mẫu đờm AFB (-), người bệnh cần được thực hiện quy trình chẩn đoán lao phổi AFB(-).Người bệnh được chẩn đoán lao phổi AFB (-) cần thoả mãn 1 trong 2 điều kiện sau: Có bằng chứng vi khuẩn lao trong đờm, dịch phế quản, dịch dạ dày bằng phương pháp nuôi cấy hoặc các kỹ thuật mới như Xpert MTB/RIF. Được thầy thuốc chuyên khoa chẩn đoán và chỉ định một phác đồ điều trị lao đầy đủ dựa trên lâm sàng hoặc bất thường nghi lao trên X-quang phổi và thêm 1 trong 2 tiêu chuẩn sau: HIV(+) hoặc không đáp ứng với điều trị kháng sinh phổ rộng. Phân loại bệnh lao (9) Có nhiều cách phân loại bệnh lao có thể theo vị trí giải phẫu theo kết quả xét nghiệm hoặc kết quả điều trị 1.
Phân loại bệnh lao theo vị trí giải phẩu Lao phổi: bệnh lao tổn thương ở phổi - phế quản, bao gồm cả lao kê. Trường hợp tổn thương phối hợp cả ở phổi và cơ quan ngoài phổi được phân loại là lao phổi. Lao ngoài phổi: bệnh lao tổn thương ở các cơ quan ngoài phổi như: màng phổi, hạch, màng bụng, sinh dục tiết niệu, da, xương, khớp, màng não, màng tim,. Nếu lao nhiều bộ phận, thì bộ phận có biểu hiện tổn thương nặng nhất (lao màng não, xương, khớp,.) được ghi là chẩn đoán chính.
Phân loại lao phổi theo kết quả xét nghiệm đờm nhuộm soi trực tiếp Dựa trên kết quả nhuộm soi đờm, lao phổi có thể được phân thành lao phổi AFB (+) và lao phổi AFB (-). Phân loại theo tiền sử điều trị lao Lao mới: người bệnh chưa bao giờ dùng thuốc chống lao hoặc mới dùng thuốc chống lao dưới 1 tháng. Lao tái phát: người bệnh đã được điều trị lao và được thầy thuốc xác định là khỏi bệnh, hay hoàn thành điều trị nay mắc bệnh trở lại với kết quả AFB (+) hoặc có bằng chứng vi khuẩn. Thất bại điều trị: khi người bệnh có AFB (+) từ tháng điều trị thứ 5 trở đi, phải chuyển phác đồ điều trị hoặc có chẩn đoán ban đầu AFB(-), sau 2 tháng điều trị xuất hiện AFB (+) hoặc lao ngoài phổi xuất hiện thêm lao phổi AFB(+) sau 2 tháng điều trị, ๐ vi khuẩn đa kháng thuốc được xác định trong bất kỳ thời điểm nào trong quá trình điều trị với thuốc chống lao hàng 1.
Điều trị lại sau bỏ trị: người bệnh không dùng thuốc liên tục từ 2 tháng trở lên trong quá trình điều trị, sau đó quay trở lại điều trị với kết quả AFB(+) hoặc có bằng chứng vi khuẩn. Điều trị bệnh lao Hiện nay có nhiều loại thuốc điều trị bệnh lao, nhưng để đạt được kết quả tốt Chương trình chống lao quốc gia khuyến cáo người bênh phải tuân thủ các nguyên tắc sau: - Phối hợp các thuốc chống lao Mỗi loại thuốc chống lao có tác dụng khác nhau trên vi khuẩn lao (diệt khuẩn, kìm khuẩn, môi trường vi khuẩn), do vậy phải phối hợp các thuốc chống lao. Phối hợp ít nhất 03 loại thuốc chống lao trong giai đoạn tấn công và ít nhất 2 loại trong giai đoạn duy trì. Với bệnh lao đa kháng: phối hợp ít nhất 4 loại thuốc chống lao hàng 2 có hiệu lực trong giai đoạn tấn công và duy trì.
- Phải dùng thuốc đúng liều Các thuốc chống lao tác dụng hợp đồng, mỗi thuốc có một nồng độ tác dụng nhất định.