Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn học "Từ xưng hô trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố" do sinh viên Nguyễn Thị Kim Luyến thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths. Bùi Thị Tâm tại Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Đại học Võ Trường Toản (tháng 05 năm 2013). Đề tài thuộc loại hình nghiên cứu văn học - ngôn ngữ học, kết hợp khảo sát định lượng ngữ liệu với phân tích ngữ dụng học và phong cách học văn bản hiện thực.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ vị trí của nhà văn Ngô Tất Tố trong nền văn học hiện thực Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Là một nhà nho và nhà báo kỳ cựu, Ngô Tất Tố am hiểu sâu sắc đời sống nông thôn, phản ánh chân thực cuộc sống cùng cực của người nông dân dưới ách áp bức và thứ thuế thân tàn bạo của chế độ thực dân nửa phong kiến. Tác phẩm Tắt đèn được đánh giá là đỉnh cao của văn học hiện thực phê phán với nghệ thuật điển hình hóa sắc sảo. Về mặt tiếp cận cá nhân, người viết sinh ra và lớn lên ở vùng đất Nam Bộ, quen thuộc với lớp từ ngữ phương ngữ Nam Bộ; khi tiếp xúc với tiểu thuyết Tắt đèn, người viết nhận thấy nét độc đáo, phong phú của lớp từ ngữ Bắc Bộ, đặc biệt là hệ thống từ xưng hô phản ánh bản chất con người và văn hóa giao tiếp Bắc Bộ đương thời.

Khảo sát lịch sử vấn đề, tác giả ghi nhận nhiều công trình nghiên cứu giá trị về Ngô Tất Tố và Tắt đèn:

  • Phan Cự Đệ (trong cuốn “Tắt đèn” tác phẩm và lời bình, 2007) phân tích vốn sống nông thôn, vốn Nho học của Ngô Tất Tố và nghệ thuật cô đúc, dồn nén ngôn ngữ học tập từ văn học dân gian.
  • Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định tầm quan sát tinh tế, sự thông thạo ngôn ngữ nông thôn của tác giả và việc xây dựng thành công tính cách điển hình của nhân vật chị Dậu.
  • Phong Lê chỉ ra đóng góp sâu sắc của nhà văn trong việc khám phá vẻ đẹp bên trong của người nghèo và ý thức đấu tranh dứt khoát của người phụ nữ nông dân.
  • Hà Minh Đức phân tích tính cách đa diện của chị Dậu trong các mối quan hệ gia đình và xã hội.
  • Nguyễn Tuân ca ngợi ngôn ngữ đối thoại kịch tính, chặt chẽ (đặc biệt là Chương XIII).
  • Phú Hương và Vũ Trọng Phụng đánh giá cao tính chất xã hội và ngôn ngữ mộc mạc, phụng sự dân quê của tiểu thuyết.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tiền bối chủ yếu tiếp cận tác phẩm ở góc độ thi pháp, tư tưởng và giá trị hiện thực tổng quát; chưa có công trình nào khảo sát chuyên biệt, có hệ thống và chuyên sâu về lớp từ xưng hô.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 5 nội dung:

  1. Tìm hiểu sâu hơn về tiếng Việt, đặc biệt là sự phong phú và nét riêng của lớp từ xưng hô.
  2. Nắm bắt và giải mã tác phẩm Tắt đèn một cách toàn diện hơn dưới góc độ ngôn ngữ nghệ thuật.
  3. Tìm hiểu nét đẹp văn hóa ứng xử của người Việt nói chung và văn hóa Bắc Bộ nói riêng qua ngôn ngữ văn học.
  4. Đánh giá giá trị của tác phẩm Tắt đèn và tài năng của Ngô Tất Tố trong việc vận dụng lớp từ xưng hô để khắc họa tính cách nhân vật.
  5. Vận dụng kiến thức chuyên ngành đã học vào thực tiễn nghiên cứu khoa học, rèn luyện kỹ năng khảo sát và phân tích văn bản.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Lớp từ xưng hô xuất hiện trong văn bản tác phẩm Tắt đèn.
  • Ngữ liệu cứ liệu: Tác phẩm Tắt đèn được in trong tuyển tập Ngô Tất Tố tác phẩm (Tập 2) do Phan Cự Đệ sưu tầm, Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1977. Văn bản này được lựa chọn vì lưu giữ đầy đủ các phần, đoạn từng bị chính quyền thực dân Pháp kiểm duyệt cắt xén trước đây.
  • Phạm vi thời gian và không gian: Khóa luận hoàn thành vào tháng 05/2013 tại Hậu Giang; phạm vi đời sống được phản ánh trong tác phẩm là không gian nông thôn đồng bằng Bắc Bộ thời kỳ thuộc Pháp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận từ các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học tiếng Việt:

  • Quan niệm về từ: Khóa luận dẫn xuất các định nghĩa của Đỗ Hữu Châu (từ là đơn vị cấu tạo ngữ pháp nhỏ nhất để tạo câu), Nguyễn Thiện Giáp (chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa để tạo ra câu nói), Hồ Lê, Nguyễn Kim Thản và Nguyễn Thị Thu Thủy nhằm xác lập khái niệm đơn vị từ vựng.
  • Quan niệm về từ xưng hô: Tiếp thu nghiên cứu của Đỗ Hữu Châu (từ xưng hô là công cụ đưa người nói và người nghe vào diễn ngôn, đồng thời câu thúc người tham gia giao tiếp vào quan hệ liên cá nhân), Vũ Tiến Dũng (xưng hô là hành động nói gắn liền với chuẩn mực xã hội và phép lịch sự), Đức Nguyễn (phân biệt hành vi tự xưng và hành vi gọi/hô), Nguyễn Thị Trung Thành (xác định nội hàm khái niệm "từ xưng hô" rộng hơn "đại từ xưng hô") và Nguyễn Văn Nở (từ xưng hô là phương tiện biểu đạt tình cảm và văn hóa ứng xử trong phong cách học).
  • Hệ thống phân loại từ xưng hô:
    • Quan điểm của Nguyễn Kim Thản về sự khác biệt giữa đại từ nhân xưng thể từ và các danh từ thân tộc dùng để xưng hô kết hợp định ngữ.
    • Quan điểm của Lê Biên về phân loại từ xưng hô thành đại từ nhân xưng gốc, từ Hán mượn, danh từ thân tộc, danh từ chức danh nghề nghiệp, tên riêng, đại từ phiếm chỉ; chia theo phạm vi gia tộc và xã hội.
    • Quan điểm của Phan Hồng Liên về hiện tượng đan xen giữa các kiểu xưng hô, tính kém linh hoạt của từ "hô" so với từ "xưng" và việc sử dụng các từ phiếm chỉ vị trí (ấy, đây, đấy...).
    • Quan điểm của Đỗ Hữu Châu về phân biệt biểu thức xưng hô và biểu thức gọi (vocative) với các dấu hiệu ơi, này, thưa...
    • Quan niệm của Cao Xuân Hạo và Trần Thành Mỹ về tính phức tạp, chi li của đại từ nhân xưng và thói quen dùng danh từ thân tộc thay thế đại từ trong tiếng Việt so với các ngôn ngữ đơn lập hoặc biến hình khác.
  • Đặc điểm của từ xưng hô tiếng Việt được khóa luận tổng kết ở hai thuộc tính: (1) Tính biểu cảm cao và tính cộng đồng hóa cao; (2) Tính tôn ti trật tự theo nguyên tắc truyền thống và văn hóa dân tộc (gồm văn hóa giao tiếp lịch sự, không lịch sự và các yếu tố vay mượn).

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm ba phương pháp chính:

  1. Phương pháp hệ thống, thống kê và phân loại: Thu thập toàn bộ các lượt xuất hiện của từ xưng hô trong văn bản Tắt đèn, phân loại vào các nhóm chức năng, lập bảng số liệu tần số và tỷ lệ phần trăm.
  2. Phương pháp đối chiếu so sánh: So sánh cách thức xưng hô giữa hai giai cấp đối kháng (quan lại phong kiến - địa chủ và người nông dân nghèo khổ); so sánh phương ngữ Bắc Bộ xuất hiện trong văn bản với phương ngữ Nam Bộ.
  3. Phương pháp phân tích, diễn giải kèm theo thủ pháp chứng minh: Phân tích ngữ cảnh xuất hiện của từng từ xưng hô, trích dẫn văn bản cứ liệu nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa biểu cảm, đặc điểm tâm lý, bản chất xã hội của nhân vật và dụng ý nghệ thuật của tác giả.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu là toàn bộ 1968 lượt từ xưng hô được trích xuất từ văn bản tiểu thuyết Tắt đèn trong cuốn Ngô Tất Tố tác phẩm (Tập 2, Nxb Văn học, 1977).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về từ xưng hô trong tiếng Việt

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học phục vụ cho việc khảo sát ngữ liệu tác phẩm. Tác giả phân tích các khái niệm cốt lõi:

  • Khái niệm về từ và từ xưng hô: Khẳng định từ xưng hô là toàn bộ các đơn vị từ vựng dùng để tự xưng, gọi đối tượng giao tiếp và biểu thị người thứ ba vắng mặt.
  • Phân loại từ xưng hô: Xác lập các phân nhóm cụ thể:
    • Từ xưng hô chỉ ngôi, chỉ số: Xác định rõ ngôi thứ 1, 2, 3 ở dạng số ít (tôi, tao, tớ; mày, mi; nó, hắn, y) và số nhiều (chúng tôi, chúng tao, chúng tớ; chúng mày, chúng bay, bay; chúng nó, chúng, họ).
    • Đại từ xưng hô dùng ở nhiều ngôi linh hoạt: Các từ phản thân, gộp ngôi hoặc phiếm định (mình, ta, chúng ta, ai).
    • Từ xưng hô dùng trong gia tộc: Chi tiết hóa các quan hệ hai chiều và thay vai theo thời gian, độ tuổi giữa ông bà - cháu (ông bà - cháu, cụ - cháu, kỵ - cháu); cha mẹ - con cái (cha mẹ - con, thầy/u - con, tía/má - con, tao - mày); vợ chồng (anh - em, mình, nhà tôi, bố/mẹ cu [tên con]); anh chị em (anh/chị - em, hia/huynh, chế/tỷ, cậu, dì, bác).
    • Từ xưng hô dùng trong quan hệ xã hội: Phân thành xưng hô theo phép lịch sự (bác, chú, anh, chị, em); xưng hô theo chức danh, chức vụ (giám đốc, quan huyện, lý trưởng, giáo sư); xưng hô trong tình cảm lứa đôi (anh - em, đôi ta, thuyền - bến, mận - đào).
  • Hai đặc điểm lớn của từ xưng hô tiếng Việt:
    • Tính biểu cảm cao và tính cộng đồng hóa cao: Hệ thống từ xưng hô không trung tính (ngoại trừ từ tôi có tính trung hòa tương đối), luôn gắn chặt với ngữ cảnh, tuổi tác, địa vị và quan hệ tình cảm.
    • Tính tôn ti trật tự theo nguyên tắc truyền thống và văn hóa: Quy định chặt chẽ sự kính trên nhường dưới trong gia đình và xã hội; biểu hiện văn hóa lịch sự (xưng khiêm hô tôn) và văn hóa phi lịch sự (tao - mày, nó, hắn, thị).

Chương 2: Khảo sát từ xưng hô trong tác phẩm Tắt đèn

Chương 2 trình bày tiểu sử văn hóa, sự nghiệp văn học - báo chí của Ngô Tất Tố và kết quả khảo sát định lượng toàn bộ văn bản tiểu thuyết Tắt đèn. Tác giả thống kê được tổng số 1968 từ xưng hô, phân chia theo ba phạm vi sử dụng chính:

STT Phạm vi sử dụng từ xưng hô Tần số xuất hiện Tỉ lệ (%)
1 Từ xưng hô dùng trong gia tộc 422/1968 21,443%
2 Từ xưng hô dùng trong xã hội 1467/1968 74,543%
3 Từ xưng hô dùng trong tình cảm vợ chồng chị Dậu 79/1968 4,014%
Tổng 1968/1968 100%

Đi sâu vào từng phạm vi, khóa luận cung cấp các phát hiện và số liệu cụ thể:

  1. Từ xưng hô dùng trong gia tộc (422 từ): Phân chia theo tầng lớp xã hội có sự chênh lệch rõ rệt:
STT Phân nhóm gia tộc Tần số xuất hiện Tỉ lệ (%)
1 Tầng lớp quan lại phong kiến 59/422 14%
2 Tầng lớp nông dân nghèo 363/422 86%
  • Tầng lớp quan lại phong kiến: Gia đình Nghị Quế thể hiện lối sống trọc phú, lai căng. Nghị Quế bắt vợ gọi con gái là mợ theo kiểu bà ký, bà phán trên tỉnh nhưng bị vợ bắt bẻ (con dâu mới gọi là mợ, con gái gọi là cô). Vợ chồng Nghị Quế gọi nhau bằng ông - tôi, bà - tôi lạnh lùng, nặng về phô trương địa vị. Vợ chồng Quan phủ xưng hô cậu - mợ - tôi học đòi lối thị thành.
  • Tầng lớp nông dân nghèo (gia đình chị Dậu): Sử dụng các từ ngữ thân tộc truyền thống vùng Bắc Bộ như cặp từ u - con, thày - con. Chị Dậu gọi con bằng tên (Dần), dùng các cách gọi thay vai với người ngoài (Cái Tý, Cháu nó, con tôi). Đáng chú ý, từ mẹ chỉ xuất hiện đúng hai lần trong toàn bộ tác phẩm vào khoảnh khắc chị Dậu dứt ruột bán đứa con gái đầu lòng ("Thôi, phải tội với trời, mẹ chịu! Cảnh nhà đã thế, mẹ đành dứt tình với con!"). Giữa anh chị em, cái Tý và thằng Dần dùng cặp chị - em, xưng tên; khi dỗi dỗi, thằng Dần chuyển thành ông - mày với cái Tỉu ("Ông không cho mày bú nữa...").
  1. Từ xưng hô dùng trong xã hội (1467 từ): Chiếm tỷ lệ áp đảo (74,543%), phản ánh bức tranh xã hội nông thôn ngột ngạt và mâu thuẫn giai cấp sâu sắc:
STT Hệ thống từ xưng hô dùng trong xã hội Tần số xuất hiện Tỉ lệ (%)
1 Giữa các quan lại có chức sắc, vị trí xã hội 370/1467 25,22%
2 Giữa người dân với nhau 284/1467 19,36%
3 Giữa người dân với quan lại địa chủ 813/1467 55,42%
  • Giữa các quan lại: Dùng chức danh để gọi nhau (Lý trưởng, quan Phủ, Cai lệ, chánh Tổng, chánh Hội, Thủ quỹ); quan hệ ngang hàng dùng ông - tôi, cấp dưới gọi cấp trên là cụ, lạy cụ, lạy ông lớn - xưng con/tôi; cấp trên gọi cấp dưới là mày - tao, các thày. Khi say sưa rượu chè hoặc mâu thuẫn quyền lợi, bản chất thô bỉ bộc lộ qua lối xưng hô xách mé: ông - mày, thằng lý đương - tao.
  • Giữa người dân với nhau: Thể hiện tình nghĩa xóm giềng, sự tôn trọng và tình cảm giai cấp nghèo khổ. Xưng hô chuẩn mực theo lứa tuổi (bác trai, bác gái - tôi, bà - tôi, cụ - cháu).
  • Giữa người dân với quan lại địa chủ: Chiếm 55,42% tổng số từ xã hội. Phía thống trị dùng các từ ngữ miệt thị, trịch thượng: ông, bà, tao - mày; con mẹ kia; nó, hắn, chúng nó. Phía người dân ban đầu chịu nhún nhường, xưng con, cháu, nhà con, nhà cháu và gọi kẻ thống trị là ông, bà, cụ, quan lớn. Khi bị áp bức tới mức không thể chịu đựng, chị Dậu đã thay đổi cách xưng hô chuyển biến thành tôi - ông và cuối cùng là bà - mày ("Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem").
  1. Từ xưng hô dùng trong tình cảm vợ chồng chị Dậu (79 từ): Chiếm 4,014%, với mô hình xưng hô đặc trưng của nông thôn Bắc Bộ: thày em - tôi, u nó - tôi, đại từ phản thân mình, hoặc khi nói với người ngoài thì gọi chồng là nhà cháu, nhà con, nhà tôi, chồng con. Cách xưng hô này phản ánh tình nghĩa vợ chồng bình dị, thương yêu, chia sẻ hoạn nạn.

  2. Đặc điểm từ xưng hô Bắc Bộ trong tác phẩm: Khóa luận làm rõ tính quy phạm trong phong tục lễ nghi Bắc Bộ (tôn ti gia tộc, tôn trọng chức sắc, văn hóa ứng xử khiêm nhường) song hành với văn hóa giao tiếp không lịch sự của giai cấp bóc lột; đồng thời chỉ ra tính biểu cảm cao qua sự dịch chuyển cách xưng hô của chị Dậu trong các cảnh kịch tính.

Chương 3: Hiệu quả của việc sử dụng từ xưng hô

Chương 3 phân tích giá trị biểu đạt nghệ thuật của hệ thống từ xưng hô trong tác phẩm:

  • Thể hiện bản chất nhân vật:
    • Bản chất độc ác, lạnh lùng, tàn nhẫn và hợm hĩnh của giai cấp thống trị: Thể hiện qua lời lẽ của vợ chồng Nghị Quế khi ép giá mua cái Tý (gọi chị Dậu là "con mẹ kia", xưng "tao - mày", hạ giá từ ba đồng xuống một đồng) và thái độ hung hãn, coi rẻ sinh mạng của Lý trưởng khi đòi sưu người chết ("Mày đi mà hỏi ông Tây... Chết thì ông chôn").
    • Bản chất nhẫn nhịn, giàu đức hy sinh nhưng kiên cường phản kháng của người nông dân: Chị Dậu mềm mỏng khi cầu xin tha cho chồng nhưng sẵn sàng chống trả quyết liệt khi nhân phẩm và sự sống bị đe dọa.
  • Thể hiện cảm xúc, tâm trạng của nhân vật: Biểu lộ sâu sắc nỗi đau xé lòng của người mẹ khi phải dứt tình bán con; sự gắn kết, lo âu, chăm sóc giữa hai vợ chồng trong cơn bĩ cực; tình cảm ngây thơ, lưu luyến giữa chị em cái Tý và thằng Dần.
  • Thể hiện nét đẹp văn hóa của con người Bắc Bộ: Giữ gìn sự nhã nhặn, tôn trọng vai vế người đối thoại trong ứng xử thường ngày giữa những người lao động cùng cảnh ngộ.
  • Thể hiện thái độ của tác giả Ngô Tất Tố: Bộc lộ sự yêu thương, trân trọng, cảm thông sâu sắc đối với người nông dân nghèo; đồng thời gián tiếp thể hiện sự căm phẫn, lên án đanh thép đối với chế độ thực dân phong kiến đồi bại.

Kết quả và đóng góp

  1. Kết quả nghiên cứu chính:
  • Khóa luận thống kê, lập danh mục và định lượng chính xác 1968 lượt từ xưng hô trong tiểu thuyết Tắt đèn, phân bổ rành mạch vào 3 nhóm phạm vi: quan hệ xã hội (1467 từ, chiếm 74,543%), quan hệ gia tộc (422 từ, chiếm 21,443%) và quan hệ vợ chồng chị Dậu (79 từ, chiếm 4,014%).
  • Chỉ ra sự chênh lệch có ý nghĩa xã hội học trong nhóm từ xưng hô gia tộc: tầng lớp nông dân chiếm 86% (363/422 từ), tầng lớp phong kiến chỉ chiếm 14% (59/422 từ), phản ánh trọng tâm ngòi bút Ngô Tất Tố hướng về đời sống tình cảm gia đình truyền thống của người nghèo.
  • Làm rõ cấu trúc phân hóa trong nhóm xưng hô xã hội: quan hệ đối kháng giữa người dân với quan lại địa chủ chiếm tỷ lệ lớn nhất (55,42% với 813/1467 từ), phản ánh trực tiếp mâu thuẫn giai cấp gay gắt thời kỳ trước cách mạng.
  • Phân tích hiện tượng biến đổi ngữ dụng đặc sắc của nhân vật chị Dậu qua ba nấc thang xưng hô đối ứng với cai lệ: từ van lạy nhún nhường (cháu - ông) chuyển sang đối thoại bình đẳng, cảnh báo (tôi - ông) và bùng nổ phản kháng trực diện (bà - mày).
  • Khám phá chi tiết từ vựng độc đáo: từ mẹ mang tính toàn dân chỉ xuất hiện đúng 2 lần trong toàn bộ tác phẩm tại thời điểm chị Dậu quyết định bán con, làm nổi bật bước ngoặt bi kịch tâm lý của nhân vật.
  1. Đóng góp khoa học và ứng dụng:
  • So với các nghiên cứu văn học trước đó (của Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê, Hà Minh Đức, Nguyễn Tuân) vốn chủ yếu nhận định khái quát về tư tưởng và nghệ thuật điển hình hóa, khóa luận đã cung cấp một bằng chứng ngôn ngữ học định lượng cụ thể, chứng minh tài năng bậc thầy của Ngô Tất Tố trong việc cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật qua từ xưng hô.
  • Đóng góp vào việc nghiên cứu phương ngữ và văn hóa giao tiếp Bắc Bộ đầu thế kỷ XX qua lăng kính tác phẩm văn học hiện thực.
  • Cung cấp tư liệu tham khảo thiết thực cho việc giảng dạy và phân tích văn bản Tắt đèn trong nhà trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài mới chỉ tiến hành khảo sát trên một văn bản tác phẩm duy nhất là tiểu thuyết Tắt đèn theo bản in năm 1977 của Nhà xuất bản Văn học; người viết là sinh viên vùng Nam Bộ nên việc phân tích các lớp phương ngữ Bắc Bộ chủ yếu dựa trên ngữ liệu văn bản viết và tài liệu nghiên cứu, chưa có điều kiện khảo cứu điền dã đối chiếu thực tế ngôn ngữ sinh hoạt Bắc Bộ đương đại.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát từ xưng hô sang toàn bộ hệ thống tác phẩm văn xuôi và phóng sự của Ngô Tất Tố như Việc làng, Lều chõng, Tập án cái đình.
    • So sánh đối chiếu hệ thống từ xưng hô trong tác phẩm của Ngô Tất Tố với các cây bút hiện thực phê phán cùng thời (như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan) để làm rõ phong cách cá nhân của từng tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp nông thôn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo rõ rệt đối với:

  • Giảng viên, sinh viên các chuyên ngành Văn học, Sư phạm Ngữ văn, Việt Nam học và Ngôn ngữ học khi tiếp cận hướng nghiên cứu liên ngành giữa văn học và ngữ dụng học.
  • Giáo viên Ngữ văn bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông khi phân tích trích đoạn "Tức nước vỡ bờ" (Tắt đèn), giúp học sinh hiểu rõ bản chất kịch tính thông qua các bước chuyển đổi từ xưng hô của chị Dậu.
  • Những người thực hiện đề tài nghiên cứu về phương ngữ xã hội, văn hóa giao tiếp truyền thống của người Bắc Bộ thời kỳ cận - hiện đại.
  • Phần đáng tham khảo nhất của công trình là hệ thống số liệu thống kê chi tiết ở Chương 2 và phần phân tích sự tương quan giữa biến đổi từ xưng hô với sự phát triển tính cách nhân vật ở Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tác giả khóa luận sử dụng văn bản "Tắt đèn" từ ấn bản nào và vì sao lại lựa chọn ấn bản đó? Tác giả sử dụng văn bản Tắt đèn in trong cuốn Ngô Tất Tố tác phẩm (Tập 2) do nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ sưu tầm, Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1977. Lý do chọn ấn bản này vì đây là bản in sưu tầm đầy đủ các chương đoạn từng bị chính sách kiểm duyệt của thực dân Pháp cắt xén trước Cách mạng, đảm bảo tính toàn vẹn của ngữ liệu nghiên cứu.

  2. Tổng số từ xưng hô được thống kê trong tác phẩm là bao nhiêu và phân bố theo những phạm vi nào? Tổng số từ xưng hô được thống kê là 1968 từ, phân bố thành ba nhóm phạm vi sử dụng:

  • Từ xưng hô dùng trong quan hệ xã hội: 1467 từ (chiếm 74,543%).
  • Từ xưng hô dùng trong gia tộc: 422 từ (chiếm 21,443%).
  • Từ xưng hô dùng trong tình cảm vợ chồng chị Dậu: 79 từ (chiếm 4,014%).
  1. Tỷ lệ từ xưng hô gia tộc giữa tầng lớp quan lại phong kiến và tầng lớp nông dân nghèo có sự chênh lệch ra sao? Trong tổng số 422 từ xưng hô gia tộc, lớp từ xưng hô của tầng lớp quan lại phong kiến (gia đình Nghị Quế, quan Phủ) chỉ có 59 từ (chiếm 14%), trong khi lớp từ xưng hô của tầng lớp nông dân nghèo (gia đình chị Dậu) chiếm áp đảo với 363 từ (chiếm 86%). Điều này cho thấy tác giả tập trung khắc họa sâu sắc đời sống tình cảm gia đình người nông dân.

  2. Từ "mẹ" xuất hiện bao nhiêu lần trong tác phẩm "Tắt đèn" và mang ý nghĩa gì theo phân tích của khóa luận? Từ "mẹ" chỉ xuất hiện duy nhất 2 lần trong toàn bộ tác phẩm. Khác với cách xưng gọi thường ngày là u, từ mẹ xuất hiện trong độc thoại nội tâm của chị Dậu khi phải dứt ruột bán con ("Thôi, phải tội với trời, mẹ chịu! Cảnh nhà đã thế, mẹ đành dứt tình với con!"). Đây là từ xưng hô toàn dân, biểu thị tột cùng nỗi đau đớn, xót xa và cảm giác tội lỗi của một người mẹ khi bất lực không bảo bọc được con mình.

  3. Sự biến đổi từ xưng hô của nhân vật chị Dậu trong cảnh đối thoại với cai lệ diễn ra qua các cặp từ nào? Sự biến đổi diễn ra qua ba nấc thang rõ rệt tương ứng với mức độ áp bức:

  • Giai đoạn 1 (nhẫn nhịn, cầu xin): Dùng cặp cháu - ông ("Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho!").
  • Giai đoạn 2 (đối thoại bình đẳng, cảnh báo): Chuyển sang cặp tôi - ông ("Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ!").
  • Giai đoạn 3 (bùng nổ, quật cường chống trả): Đảo ngược vị thế bằng cặp bà - mày ("Mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem").

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Kim Luyến đã hoàn thành việc khảo sát, phân loại và định lượng toàn diện hệ thống 1968 từ xưng hô trong tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Qua các số liệu thống kê khoa học và phân tích ngữ cảnh cụ thể, công trình làm sáng tỏ sự đối lập gay gắt giữa lối giao tiếp trọc phú, hống hách của giai cấp thống trị với ngôn ngữ giàu tình nghĩa, nhã nhặn nhưng quật cường của người nông dân lao động Bắc Bộ. Đề tài bổ sung một hướng tiếp cận ngôn ngữ học thực chứng có giá trị, góp phần khẳng định tài năng bậc thầy của Ngô Tất Tố trong việc cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật và khắc họa hiện thực xã hội.