phần mở đầu và phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được chia thành 3 chương như sau: Chƣơng 1: Bối cảnh lịch sử bán đảo Korea thế kỷ XIX 1. Vài nét về chính trị xã hội trước khi xuất hiện tư tưởng Donghak 1. Vài nét về tư tưởng học thuật và tôn giáo Tiểu kết Chƣơng 2: SuUn Choi Jae U và nội dung tƣ tƣởng Donghak 2. Cuộc đời sự nghiệp của SuUn Choi Jae U 2.
Hai tác phẩm chính của tư tưởng Donghak 2. Khái lược nội dung tư tưởng Donghak 12 z 2. Tư tưởng Donghak mang đậm tính chất văn hóa Korea Tiểu kết Chƣơng 3: Ảnh hƣởng của tƣ tƣởng Donghak đối với cuộc cách mạng nông dân Donghak cuối thế kỷ XIX. Phong trào cách mạng nông dân Donghak 3.
Các tôn giáo bắt nguồn từ tư tưởng Donghak 3. Khơi nguồn ý tưởng về „KOREA HỌC‟ 13 z PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I BỐI CẢNH LỊCH SỬ BÁN ĐẢO KOREA THẾ KỶ XIX 1. Vài nét về tình chính trị, xã hội Joseon trước khi xuất hiện tư tưởng Donghak Nhà nước Joseon do Lee Seong Gye (Lý Thành Quế - 이성계) sáng lập vào năm 1392. Lee Seong Gye vốn đại diện cho lực lượng mới nổi lên vào cuối triều đại Koryo.
Trong thực tế, ông không phải là người thuộc dòng họ nổi tiếng và có lịch sử lâu đời ở vùng bán đảo Korea. Ông tiến thân được là nhờ vào sự thành công của mình trên con đường binh nghiệp, nhất là chiếm được sự ủng hộ của các bậc “khai quốc công thần” (Gaeguk Gongsin- 개국공신) cuối triều đại Koryo như Jeong Do Jeon (Trịnh Đạo Truyền - 정도전) và Jo Jun (Triệu Lăng - 조준). Lee Seong Gye đã thành công trong việc thiết lập một triều đại mới, lấy Hanyang (Hán Dương, 한양: Seoul) làm kinh đô và mở ra một giai đoạn lịch sử mới trên vùng bán đảo, cũng từ đó kinh đô Hanyang trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của Korea. Thời kỳ đầu mới thành lập, trên danh nghĩa vua là người nắm quyền điều hành đất nước nhưng Lee Seong Gye không phải là người nắm thực quyền.
Quyền lực triều đình chủ yếu nằm trong tay các bậc “khai quốc công thần”. Vì vậy, mọi quyết định của quốc gia đều do các bậc khai quốc công thần trong tổ chức Top‟yonguisasa (Đô Bình Nghị Sứ Ty - 도평귀사사) soạn thảo, sau đó Nhà vua chỉ việc phê chuẩn và đưa chúng vào thực hiện. Sự thao túng quyền lực của các bậc khai quốc công thần lấn sát quyền lực Nhà vua đã dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng. Năm 1400, sau khi kế vị ngai vàng, Lee Bang Won (Lý Phương Viễn, 이방원) đã thực hiện một cuộc tảo thanh trong hoàng gia, trừ khử Jeong Do Jeon và loại bỏ nhiều thế lực chống đối Nhà vua.
Để hạn chế sự lạm quyền của các công thần, vua Lee Bang Won (이방원) còn cho đổi 14 z Đô Bình Nghị Sứ Ty thành Nghị Chính phủ, quyền điều hành đất nước vua chủ yếu giao cho các Lục Tào (sáu bộ) đảm nhiệm. Trong lịch sử triều đại Joseon, thời kỳ hoàng kim nhất của vương triều này là thời kỳ do vua SeJong (Thế Tông, 세종) trị vì từ năm 1418-1450. Để chấn hưng đất nước, xây dựng một triều đại mạnh, sau khi nắm thực quyền, vua SeJong đã thành lập Chiphyonjon (Tập Hiền Điện, 집현전) nhằm thu hút nhân tài trong nước. Chính sách “chiêu hiền đãi sĩ” đúng đắn của Nhà vua đã nhanh chóng quy tụ được nhiều học giả nổi tiếng trong nước về Tập Hiền Điện để nghiên cứu và học tập, tập trung trí tuệ cùng hoàng gia xây dựng đất nước.
Do có sự quan tâm sâu sắc và sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhà vua và các học giả trong Tập Hiền Điện mà nhiều công trình văn hoá, khoa học, kĩ thuật dưới thời vua SeJong đã ra đời. Tuy vậy sự tồn tại của Tập Hiền Điện cũng không được lâu dài. Năm 1456, vua SeJo (Thế Tổ, 세조) sau khi lên ngôi đã ra lệnh giải tán Tập Hiền Điện và tiến hành một cuộc thanh trừng nhằm loại bỏ nhiều viên quan đại thần có tư tưởng chống đối. Các nhà nghiên cứu gọi sự kiện này là “Tử lục thần” tức là sự kiện sáu quan đại thần bị xử tử gồm: Seong Sam Mun (Thành Tam Vấn, 송삼문); Park P‟aeng Nyon (Phác Bành Niên, 박평년), Ha Wi Ji (Hà Vĩ Địa, 하위지), Lee Gae (Lý Khải, 이개), Yu Eung Bu (Du Ứng Phù, 유응부) và Yu Seong Won (Liễu Thọ Viên, 유성원).
Ngoài ra, vua SeJo còn cho biên soạn một bộ luật mới là Kinh Quốc Đại Điển (경국대전) nhằm xác định chức năng và cơ cấu của triều đình Joseon. Trong triều đình Joseon, các bậc khai quốc công thần đều là những người nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng. Tuy nhiên từ nửa cuối thế kỷ XV, trên sân khấu chính trị Joseon đã xuất hiện một tầng lớp trí thức mới - tầng lớp Sarim (Sĩ Lâm, 사림), họ là những người đỗ đạt từ các Seowon (서원, Trường Tư) có gốc gác từ các vùng thôn quê. Tầng lớp trí thức này là những nhà Nho vốn coi trọng học vấn thâm sâu về kinh điển Trung Quốc nên họ có nền tảng học 15 z vấn chắc chắn về lý tưởng và đạo đức khác xa với nền học vấn của các bậc khai quốc công thần ở kinh đô.
Sau khi vua SeongJong (성종, Thành Tông) lên ngôi (1469-1494), nhiều Sarim đã được Nhà vua bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng trong các tổ chức như Ngự Sử Đài (Osadae, 오사대) hoặc Hoằng Văn Quán (Hoangmun‟gwan, 황문관) trong triều đình. Cách dụng thần này đã ngăn chặn sự bành trướng quyền lực của tầng lớp công thần. Sự xuất hiện của tầng lớp Sarim trong hoàng gia chính là nguyên nhân dẫn đến các cuộc thanh trừng trí thức, lịch sử Korea gọi đó là các vụ “sĩ hoạ”. Vụ sĩ hoạ đầu tiên nổ ra vào năm Mậu Ngọ (Mậu Ngọ sĩ hoạ) dưới triều vua Yonsan‟gun (Yến Sơn Quân, 연산군, 1494-1506) và sau đó là triều vua JungJong (Trung Tông, 중종, 1506-1544), liên tiếp xảy ra 4 cuộc thanh trừng trí thức.
Nguyên nhân các cuộc thanh trừng trên có khác nhau, nhưng chủ đề chính xuyên suốt từ vụ thứ nhất đến vụ cuối cùng là cuộc đấu tranh dành quyền lực giữa phái công thần và phái Sarim. Kết quả các Sarim đều bị thất bại và phải chịu những hậu quả nặng nề và đều là những nạn nhân của các đợt thanh trừng. Mặc dù phải chịu nhiều tổn thất to lớn, nhưng các Sarim có nền tảng vững chắc trong các trường tư, hương ước và nông trang của họ trên nhiều địa phương trong nước, họ cũng từng bước khắc phục hậu quả và tiếp tục khẳng định vị thế của họ trên sân khấu chính trị ở Joseon. Bước vào nửa cuối thế kỷ XVI, cùng với sự phát triển của xã hội và sự phục hồi vị thế của tầng lớp Sarim, cùng với nhiều chuyển biến của đời sống chính trị, xã hội đòi hỏi cần phải có sự bổ sung thêm quan chức vào bộ máy chính quyền để lãnh đạo đất nước.
Tuy nhiên việc tuyển chọn quan lại bổ sung vào bộ máy chính quyền ở Joseon vào thời gian này không phải là việc làm đơn giản mà trái lại đã trở thành vấn đề khó khăn, phức tạp khi số lượng quan lại trong bộ máy chính quyền đã được sắp đặt cố định và khó có thể thay đổi vị trí của quan lại trong một thời gian dài. Việc nhiều người thuộc tầng lớp yangban cùng tranh chấp một số vị trí nhất định trong bộ máy chính quyền tất 16 z yếu dẫn đến mâu thuẫn giữa các phe phái trong nội bộ hoàng gia. Lịch sử Korea gọi hiện tượng này là hiện tượng “Đảng tranh” (당쟁). Vụ đảng tranh lớn nhất trong triều đình Joseon diễn ra xoay quanh nhân vật có chức quan JeonLang (전랑) - một chức quan tầm trung bình trong Bộ Nhân sự (이조).
Kết quả, cuộc đảng tranh đã dẫn tới mâu thuẫn nội bộ và cuối cùng trong triều đình đã xuất hiện hai phái đối lập: phái Đông Đảng (Dongin, 동인) và phái Tây Đảng (Seoin, 서인). Trong thời kỳ đầu, phái Đông đảng chiếm ưu thế trong hoàng gia, lấn át phái Tây đảng. Tuy nhiên sau đó nội bộ phái Đông đảng cũng có sự phân hoá thành hai phái nhỏ: phái Bắc và phái Nam. Từ năm 1623 dưới thời vua InJo (Nhân Tổ, 인조), phái Tây đảng đã nắm ưu thế chính trị trong triều đình và sau đó phái này cũng có sự rạn nứt chia thành 2 phái nhỏ: phái Noron (Lão luận, 노론) và phái Soron (Thiếu luận, 소론).
Sự xung khắc giữa các phe phái kéo dài trong triều đình Joseon đã xuất hiện một số dòng họ lớn nắm giữ nhiều quyền lực lớn trong triều đình. Điển hình là các dòng họ theo phái Noron thay nhau nắm quyền lực chính trị trong triều đình từ đời này qua đời khác. Như đã nêu ở trên, từ hai thế kỷ trước đó (thế kỷ XIV, XV), giới trí thức Sarim đã nhiều lần chiếm địa vị trong hoàng gia, nhưng họ đều bị phái công thần lấn át. Bước sang nửa cuối thế kỷ XVI, Tính lý học (성리학, Tân Nho giáo) đã được công nhận về phương diện triết học và các giá trị xã hội của nó.
Tuy nhiên về tình hình chính trị thời kỳ này, quyền lực chủ yếu nằm trong tay một vài dòng họ lớn, vì vậy nhiều trí thức Nho giáo đã từ bỏ quyền lực chính trị về ở ẩn dật tại các vùng nông thôn. Nhiều người tìm cách cáo quan về quê mở trường tư dạy học. Vì lẽ đó, những năm cuối thế kỷ XVII, số trường tư ở Joseon tăng lên khá nhanh, khoảng gần 300 trường được thiết lập dưới triều vua SukJong (Túc Tông, 숙종, 1674-1720). Sự lũng đoạn quyền lực của các dòng họ lớn trong triều đình, nhất là sự lũng đoạn của phái Lão luận đã gây ra 17 z những phản ứng của nhiều người trong hàng ngũ quan lại.
Họ không chỉ chỉ trích và mất lòng tin vào sự công bằng xã hội của triều đại Joseon mà còn cho rằng Tính lý học chẳng qua cũng chỉ là một thứ giáo điều bất khả xâm phạm. Họ chủ trương nêu ra một phương pháp tiếp cận mới với một tinh thần khác hẳn với các trào lưu đương thời trong việc cải cách thể chế chính trị của triều đại Joseon. Từ những nhận thức đó, những người có chủ trương cấp tiến nêu trên đã thiết lập một trường phái học thuật mới - trường phái Thực học (Silhak, 실학). Nội dung nghiên cứu chủ yếu của trường phái này là nhận thức hiện thực, nhờ vào việc xây dựng niềm tự hào dân tộc, cải cách các vấn đề xã hội hậu kỳ Joseon và đại diện cho suy nghĩ của dân chúng.