Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Đặc điểm từ ngữ nghề dệt lụa ở Hồng Đô, Thiệu Đô, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Chương 3: Bước đầu tìm hiểu về các sắc thái văn hóa địa phương qua hệ thống từ ngữ nghề dệt lụa 5 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Tổng quan Lịch sử nghiên cứu từ ngữ làng nghề Từ ngữ làng nghề là mảng đề tài đã được không ít các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Bên cạnh những công trình về từ vựng, ngữ nghĩa học, nghiên cứu lí thuyết chung về từ nghề nghiệp, từ ngữ làng nghề đã xuất hiện trong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả. Nghiên cứu về từ và từ chỉ nghề nghiệp nói chung phải kể đến các công trình lớn với những tác giả tên tuổi sau: Nguyễn Văn Tu (1978), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại; Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa; Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên các miền đất nước; Nguyễn Thiện Giáp (2002), Từ vựng học tiếng Việt. Những nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp cụ thể có thể kể đến nhiều công trình.
Ví dụ: các công trình sau: Nhóm từ ngữ liên quan đến sông nước trong phương ngữ Nam Bộ của Trần Thị Ngọc Lang (Phụ trương ngôn ngữ số 2, 1982); Về từ ngữ chỉ nghề gốm của Phạm Hùng Việt (Viện ngôn ngữ, 1989); Vốn từ chỉ nghề cá ở tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng của Lương Vĩnh An (Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh); Từ ngữ nghề nghiệp gốm sứ Bát Tràng của Nguyễn Văn Khang (Đề tài cấp Viện - Viện Ngôn ngữ - 2002) đã có cái nhìn khái quát khá đầy đủ và toàn diện về từ ngữ nghề mộc gốm sứ Bát Tràng. Cũng trong năm này, tác giả Lê Văn Trường trong Hội nghị khoa học, Viện Ngôn ngữ học, đã có công trình khảo sát: “Từ nghề nghiệp nghề Gốm Quế”; Năm 2003, tại hội nghị khoa học của viện ngôn ngữ học, tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga đã đề cập đến một số đặc điểm của từ ngữ nghề làm muối Nghệ Tĩnh trong bài: “Từ ngữ làm muối tại Nghệ Tĩnh”. Vốn từ ngữ chỉ nghề mộc ở làng Thái Yên, Đức Thọ, Hà Tĩnh của Trần Thị Ngọc Hoa (Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, 2006); Đặc điểm các nông cụ qua các thổ ngữ Quảng Bình của Phan Thị Tố Huyền (Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, 2007).Và gần đây, năm 2010, ở Thái Nguyên cũng có một luận 6 văn thạc sĩ Ngữ văn của Nguyễn Văn An, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên về đề tài: “Từ ngữ nghề gốm Thổ Hà”. Lịch sử nghiên cứu từ ngữ làng nghề ở địa phương Thanh Hóa.
Nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp đã có không ít các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Riêng ở Thanh Hóa có thể kể đến các công trình sau: Nghề thủ công truyền thống Thanh Hóa của Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hóa (1999); Tên gọi các bộ phận của cái cày qua một số thổ ngữ ở Thanh Hóa của Võ Xuân Quế (Ngữ học trẻ, Nghệ An, 1999); Đặc điểm lớp từ chỉ nghề nghiệp của Lê Xuân Soan (ở Thanh Hóa, chuyên đề, 2009); Làng nghề xứ Thanh của Hà Mạnh Khoa (2009); Khảo sát từ ngữ chỉ nghề biển ở Hậu Lộc - Thanh Hóa của Nguyễn Thị Duyên (Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, 2010); Từ ngữ nghề đúc đồng, đúc nhôm trong tiếng Thanh Hóa của Nguyễn Chí Quang (Luận văn Thạc sĩ, Đại học Hồng Đức, 2011); Từ ngữ nghề chế tác đá tỉnh Thanh Hóa của Bùi Thị Yến (Luận văn Thạc sĩ, Đại học Hồng Đức, 2011); Từ ngữ chỉ nghề trồng lúa nước ở huyện Hoằng Hóa, Tỉnh Thanh Hóa của Lê Thị Thu Trang (Luận văn thạc sĩ Đại học Hồng Đức 2012); Từ ngữ nghề mộc ở Đạt Tài Hoằng Hóa, Thanh Hóa của Trịnh Phương Anh (Luận văn thạc sĩ Đại học Hồng Đức 2012), v. Mặc dù là địa phương có số lượng làng nghề phong phú và đa dạng nhưng vấn đề từ ngữ làng nghề, vấn đề từ nghề nghiệp ở địa phương Thanh Hóa vẫn còn là mảnh đất cần những khám phá rộng và sâu hơn. Kế thừa kết quả nghiên cứu của những người đi trước cùng với những lí do (như đã nói), chúng tôi tiến hành đề tài Từ ngữ nghề dệt lụa ở Hồng Đô, Thiệu Đô, Thiệu Hóa, Thanh Hóa.
Những vấn đề lý thuyết về từ ngữ. Từ tiếng Việt. Từ là đơn vị nhỏ nhất dùng để đặt câu. Có nhiều định nghĩa khác nhau về từ.
7 Các tác giả, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, trong cuốn Cơ sở ngô ngữ học tiếng Việt đã định nghĩa về từ như sau: "Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu" [11; tr. Tác giả Đỗ Hữu Châu lại quan niệm: "Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, tất cả với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu" [7; tr. Để thuận lợi cho việc nghiên cứu, khảo sát chúng tôi sử dụng khái niệm từ tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu. Theo cách định nghĩa này thì từ tiếng Việt có những đặc trưng riêng về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, cấu tạo.
Trong luận văn này, chúng tôi xin đi sâu vào tìm hiểu cấu tạo, ngữ nghĩa của tiếng Việt làm cơ sở cho việc triển khai đề tài. Đặc điểm cấu tạo của từ Về mặt cấu tạo của từ thì các tác giả thường đề cập đến hai vấn đề chính đó là phương thức cấu tạo từ và đơn vị cấu tạo từ. Phần đa các nhà nghiên cứu đều thống nhất phương thức cấu tạo từ cơ bản trong tiếng Việt là: Từ đơn, từ ghép, từ láy. Cùng quan điểm coi hình vị là đơn vị cấu tạo từ, xét về mặt cấu tạo, chúng tôi chia từ tiếng Việt thành hai loại từ đơn (nghĩa là từ một hình vị) và từ phức (do hai hình vị trở lên tạo thành).
Trong từ phức lại phân chia thành từ ghép và từ láy. Từ đơn Ở đây được hiểu là những từ được cấu tạo từ một hình vị theo phương thức từ hóa hình vị. Trong tiếng Việt đại bộ phận các từ đơn thuần Việt đã được Việt hóa là từ đơn một âm tiết. Cũng có một số từ đơn đa âm tiết nhưng chủ yếu là những từ vay mượn từ các ngôn ngữ Ân - Âu.
8 Từ ghép Là loại từ có từ hai hay hơn một số hình vị được ghép lại với nhau theo phương thức ghép. Trong từ ghép lại được chia thành hai loại đó là ghép chính phụ và ghép đẳng lập. Từ ghép chính phụ hay còn gọi là ghép bổ nghĩa hay phân nghĩa. Đặc điểm cấu trúc của từ ghép chính phụ là: Thành tố chính (thành tố độc lập) đứng trước, thành tố phụ (thành tố không độc lập đứng sau) (hoặc phị trước - chính sau).
Đặc điểm về thành tố trực tiếp là chỉ có hai thành tố. Dạng 1 Từ ghép song tiết trong đó thành tố chính đứng trước thành tố phụ (thành tố phụ không độc lập) đứng sau như ba sơ đồ minh họa sau: C P Ví dụ: Hoa Lan Nếu gọi thành tố chính là C, thành tố phụ là P thì mối quan hệ giữa C và P sẽ là: Dạng 2 C P Ví dụ: Hoa hồng Dạng từ ghép trên 2 âm tiết, trong đó thành tố chính đứng trước, thành tố phụ đứng sau, mối quan hệ giữa thành tố chính và thành tố phụ sẽ là: 9 C P P1 P2 Ví dụ: Trứng tằm vàng Từ phân tích các ví dụ như trên chúng ta nhận thấy trật tự cú pháp thông thường của các từ ghép chính phụ theo trình tự: chính trước - phụ sau. Đặc điểm ngữ nghĩa của lớp từ chính phụ: thành tố thứ nhất thường biểu thị ý nghĩa phạm trù giữ vai trò chính, vai trò trung tâm, những thành tố còn lại (thành tố đứng sau) biểu thị thuộc tính khu biệt của sự vật, quá trình hay tính chất do thành tố thứ nhất biểu thị. Hệ quả ngữ nghĩa quan trọng nhất của quá trình kết hợp này là sự chuyên biệt hóa về nghĩa cho cả từ ghép.
Từ ghép đẳng lập: (từ ghép hợp nghĩa) là những từ ghép do hai hình vị tạo nên, trong đó không có hình vị nào là hình vị chỉ loại lớn, không có hình vị nào là hình vị phân nghĩa. Các từ ghép này không biểu thị những loại (sự vật, hiện tượng.) nhỏ hơn, trái lại chúng chúng biểu thị những loại rộng hơn bao trùm hơn so với loại của từng hình vị tách riêng. Trong từ ghép đẳng lập thì các thành tố đều là những đơn vị có nghĩa độc lập, biểu thị những khái niệm có cùng một phạm trù, hầu hết các thành tố đều có quan hệ gần nghĩa với nhau. Từ láy Là từ được cấu tạo theo phương thức lấy, đó là những phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh - quy tắc thanh điệu) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa.
10 Căn cứ vào số lần tác động của phương thức láy, bao gồm: láy đôi, láy ba, láy bốn âm tiết. Trong đó láy đôi được phân chia thành láy toàn bộ và láy bộ phận. Láy bộ phận có thể là láy âm hay láy vần. Trong từ láy có ít nhất một yếu tố không độc lập (mờ hay mất nghĩa).
Vì các từ láy hình thành do phương thức tác động vào các hình vị cơ sở cho nên ý nghĩa của các từ láy cũng hình thành ý nghĩa của hình vị cơ sở. Do đó khi xét ý nghĩa của các từ láy cần phải đối chiếu ý nghĩa của nó với ý nghĩa của hình vị cơ sở. Đặc điểm ý nghĩa của từ Từ tiếng Việt có những ý nghĩa sau: Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật: sự vật, hiện tượng, đặc điểm.ngoài ngôn ngữ, được từ biểu thị nên ta gọi là ý nghĩa biểu vật của từ. Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào tư duy thành các khái niệm, được phản ánh vào ngôn ngữ thành các ý nghĩa biểu vật và từ các ý nghĩa biểu vật có các ý nghĩa biểu niệm tương ứng.
Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái: thuộc phạm vi biểu thái của từ là những nhân tố có giá trị đánh giá như: to, khỏe., nhân tố cảm xúc như: buồn, vui, thoải mái., nhân tố thái độ như: kính trọng, khinh rẻ.mà từ gợi ra cho người nói và người nghe.