CHƯƠNG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. SO LUQC VE DIEU KIEN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH QUẢNG NAM 1. Điều kiện tự nhiên + Vị trí địa lý tỉnh Quảng Nam: Tinh Quang Nam có tọa độ địa lý: Từ 14957'10'' đến 16°03'50” vĩ độ bắc và từ 107°1240” đến 108944'20” kinh độ đông. - Phía bắc giáp: Tỉnh Thừa Thiên Huế và Thành phố Đà Nẵng.
~ Phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi - Phía tây giáp nước CHDCND Lào và tỉnh Kon Tum. - Phía đông giáp biển Đông. + VỊ trí địa lý huyện Nam Giang, Đông Giang và Phước Sơn - Phía bắc giáp với tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Da Nẵng. - Phía nam giáp với huyện Nam Trà My và Bắc Trà My.
- Phía tây giáp nước CHDCND Lào, huyện Tây Giang và tỉnh Kon Tum. - Phía đông giáp với huyện Đại Lộc, huyện Hiệp Đức và huyện Nông Sơn. Huyện Nam Giang, Đông Giang và Phước Sơn nằm ở phía tây Quảng Nam, độ cao trung bình 650 m (đỉnh cao nhất là 2.000 m), độ dốc bình quân 13 — 20”. Địa hình khá phức tạp, bị chia cắt bởi các khối núi và sông.
suối chẳng chịt trong các thủng lung nhỏ hẹp. Núi ở đây có độ dóc rất lớn, nhưng nhìn chung thấp dần về phía Đông và Đông Nam. + Diện tích: Tổng diện tích tự nhiên tỉnh Quảng Nam: 1. Diện tích tự nhiên tại ba huyện: - Nam Giang: 184.479,31 ha, - Dong Giang: 81.263,23 ha + Địa hình — Thổ nhưỡng: - Địa hình: Tỉnh Quảng Nam có địa hình nghiêng dần từ Tây sang Đông hình thành 3 kiểu cảnh quan sinh thái rõ rệt là kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa và dải đồng bằng ven biển.
Vùng đồi núi chiếm 72% diện tích. Các huyện Nam Giang, Đông Giang và Phước Sơn nằm đọc dãy trường sơn với 65% là đồi núi. Rừng có nhiều thổ sản, đất đai thích hợp với cây mật nhân phát triển. Tại ba huyện có nhiều ngọn núi cao.500 m như núi Lum Heo cao 2.032 m, núi Gole — Lang cao 1.855m ở huyện Phước Sơn.
- Thổ nhưỡng: Cho tới nay, đã có nhiều định nghĩa về đất, nhưng định nghĩa của Đacutraep (1879), một nhà thổ nhưỡng học người Nga được thừa nhận rộng rãi nhất. Theo tác giả này thì "Đất là vật thể tự nhiên được hình thành qua một thời gian dài do kết quả tác động tổng hợp của 5 yếu tố: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Đây là định nghĩa đầu tiên và cũng là định nghĩa phản ánh xác thực nguồn gốc hình thành đất. Đặc điểm đất vùng cây mật nhân phân bố tại tỉnh Quảng Nam chủ yếu đỏ vàng trên núi, đất vàng đỏ trên đất sét, đất pha cát.
Theo số liệu của sở tài nguyên - môi trường tỉnh Quảng Nam thì đất đai tại Nam Giang, Đông Giang và Phước Sơn gồm có các loại ất cơ bản sau: Đất phù sa sông suối (Pj) phân bổ doc theo các sông suối. Do bồi tụ các con sông, nằm ở khu vực sông suối bằng phẳng thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, nhất là cây lương thực và thực phẩm. Dat nâu vàng trên phù sa cỗ (Fp) phân bố ở vùng thấp và ở các thị trấn Thạnh Mỹ, Prao và Khâm Đức.Đắt có thành phần cơ giới thịt nhẹ, tốt cho việc trồng lạc, mía. Đất nâu tím trên đá paranai (Fe) phân bổ ở địa hình núi cao.
Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất (Fs) phân bố hầu hết các xã trong ba huyện. Đất thịt pha cát với đá, kết cấu kém bền vững, thích hop phát triển cây công nghiệp lâu năm, dược liệu quý và phát triển nông lâm kết hợp. Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính (Fk) phân bố ở các xã vùng trung. Dat vàng đỏ trên đá macma axit (Fa) phân bố đều ở các xã trong ba huyện.
Dat min đỏ trên đá paranai (Hs) phân bố ở các xã Phước Kim, Phước Thành (Phước Sơn), TàBhing, Chà Val, Đăk Pre, Dak Pring (Nam Giang) Dat đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất (Ha) phân bố trên địa hình các xã vùng cao. Đất đồi chưa sử dụng phân bố địa hình cao hàm lượng dinh dưỡng thấp, tầng đất dày, thoát nước tốt thích hợp trồng cây công nghiệp, cây ăn quả: Cà phê, Keo, Mía Đất dốc tụ (D) phân bố ở các xã vùng thấp và thung lũng Khâm Đức (Phước Sơn), Càdy (Nam Giang), Xã Ba, xã Tư (Đông Giang), + Khí hậu — Thúy Văn: - Khí hậu: Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chỉ có 2 mùa là mùa mưa và mùa khô, chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miễn Bắc. huyện Nam Giang, Đông Giang và Phước Sơn có khí hậu nhiệt đới và gió mùa. Thời tiết chia làm hai mùa: mùa nắng và mùa mưa.
Mùa mưa: Từ hạ tuần tháng giêng âm lịch đến thượng tuần tháng giêng âm lịch Mùa nắng: Từ thượng tuần tháng giêng âm lịch đến thượng tuần tháng 8 âm lịch. Ngoài ra tại huyện Nam Giang, Đông Giang và Phước Sơn còn được chia thành bốn tiết: Tiết xuân: vào khoảng tháng giêng âm lịch đến tháng 3 âm lịch. Khí hậu mát mẻ, thỉnh thoảng có mưa phùn nhưng không mang hơi lạnh như sương mù cao nguyên. Tiết hạ: Từ tháng 4 âm lịch đến cuối tháng 6 âm lịch, mát mẻ, nắng gắt có những trận mưa dong lớn.
Thường sau những cơn mưa dong khí hậu dễ chịu hơn. Tiết thu: Từ tháng 7 âm lịch đến cuối tháng 9 âm lịch, mát mẻ, nhưng buổi tối thường có mưa, mực nước sông thường dâng cao, gây nên lũ lớn (1990) đôi khi mưa nắng kéo dài đến tháng 8 và nhiệt độ không kém nhiệt độ tháng 4, tháng 5 Tiết đông: Từ tháng 10 âm lịch đến tháng 12 âm lịch với những cơn mưa dầm kéo dài suốt tháng, gió bắc lạnh se đa, tuy nhiên thường sau 23 tháng 10 âm lịch không còn những trận lũ lụt lớn. - Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 25,4°C, nhiệt độ cao nhất 41°C, nhiệt độ thấp nhất 10°C, Tổng nhiệt độ năm 90 - 9§°C. Mùa đông nhiệt độ tại ngọn núi cao có thể xuống dưới 10°C.
Độ ẩm trung bình trong không khí đạt 84,5%. Tăng cao từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau và giảm thấp từ tháng 5 đến tháng §. Lượng bốc hơi bình quân năm 935mm/năm. Tỷ lệ giữa bốc hơi và lượng mưa hàng năm từ 30 ~ 40%.
Trong mùa khô. lương bốc hơi có thể gấp 4 - 8 lần lượng mưa, nhưng trong mùa mưa lượng bốc hơi chiếm 10 — 20% lượng mưa. - Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình 2000-2500mm, nhưng phần bố không đều theo thời gian và không gian, mưa ở miền núi nhiều hon dong bằng, mưa tập trung vào các tháng 9 - 12, chiếm 80% lượng mưa cả năm. Một số thời tiết đặc biệt: Bão và áp thấp nhiệt đới, dông.
thường Xuyên xảy ra. - Chế độ gió: Chịu ảnh hưởng của hai loại gió mùa: Gió mùa hè có ảnh hưởng từ Đông đến Nam, trong mùa hè thường xuất hiện hội tụ nhiệt đới tạo nên các cơn mưa lớn vào tháng 4 đến tháng 5. Gió mùa đông có hướng chủ yếu từ Tây Bắc đến Bắc, trong mùa đông thường xuất hiện phon cực đới tạo thành các đới gió mùa đông bắc vào tháng 12 va thang 1 theo mưa. 10 - Chế độ bức xạ: Ánh sáng là nhân tố quan trọng nhất tham gia trực tiếp vào quá tình quang hợp và có vai trò quyết định đến quá trình quang hợp.
Ảnh hưởng của ánh sáng đến quang hợp vừa phụ thuộc cường độ ánh sáng vừa phụ thuộc chất lượng ánh sáng. Hàng năm có hai lần mặt trời đi qua thiên đỉnh, lần thứ nhất vào khoảng cuối tháng 4 và đầu tháng 5, lần thứ hai vào trung tuần thang 8. Lượng bức xạ tông cộng thực tế phổ biến từ 129 - 152 kcal/cm /năm, lượng bức xạ tổng cộng phân bố không đồng đều theo các tháng và tất yếu dẫn đến phân bố không đồng đều trong các mùa, lượng bức xạ tổng cộng mùa khô (từ tháng 1 đến tháng 7) chiếm đến 70 — 76%, mùa mưa (từ tháng 8 đến tháng 12) chỉ chiếm 25 - 30%. Lượng bức xạ tông cộng vụ Đông Xuân chiếm 41%, còn lại vụ hè thu chiếm 59%.
- Thủy văn: Tại ba huyện có các con lớn như Sông Bung, Sông A Vương, sông Vu Gia, sông Vàng, sông Kôn, và các hệ thống khe, suối chẳng chịt, hầu hết ở các xã, thôn của ba huyện. đồng bằng và thung lũng rất ít, nhỏ hẹp. Rừng núi có nhiều thô sản, đất đai thích hợp với cây mật nhân phát triển. Ba huyện Nam Giang, Đông Giang và Phước Sơn nằm trong khu vực địa hình núi cao chia cắt mạnh và có lượng mưa lớn, nên mạng lưới sông suối khá phong phú.
Hiện nay các hệ thống sông đã và đang xây dựng các thủy điện cung cấp điện cho nhu cầu ngày càng tăng của cả nước. + Tài nguyên sinh vật: - Động vật: Về khu hệ động vật có xương sống trên cạn rất đa dạng và phong phú: Theo tài liệu khu bảo tồn thiên nhiên sông Thanh có 53 loài thú, 183 loài chim, 44 loài bò sát, 21 loài lưỡng cư, 25 loài cá và rất 11 nhiều động vật không xương sống. Trong hệ động vật có 23 loài thú, 12 loài chim 16 loài bò sát và 3 loài lưỡng cư có tên trong danh sách đỏ Việt Nam. Có nhiều loại động vật quí hiếm và hoang dã: hỗ, voi, nai, gấu, voọc, công, trĩ, trăn, rắn, rùa.
- Thực vật: Theo tài liệu điều tra của WWE - Đông Dương và Viện Điều tra Qui hoạch Rừng Việt Nam thực hiện tại khu bảo tồn thiên nhiên sông Thanh có 831 loài thực vật bậc cao (thuộc 494 chi, 135 họ) đã được ghi nhận qua các đợt khảo sát năm 1997 và 1999. Trong số đó có 23 loài hữu dụng, 38 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam. Rừng có nhiều loại gỗ qui im, gõ, dỗi, chò, sến, sao đen, pơmu.; lâm sản khác: trầm hương, dầu rái, mây và các loại cây dược liệu quí có giá trị kinh tế cao. Theo Điều 7 về phân loại rừng theo loài cây tại Thông tư Số: 34/2009/TT BNN&PTNT, ngày 10 tháng 06 năm 2009 của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn về quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng, thì rừng tại ba huyện Nam Giang, Đông Giang và Phước Sơn được chia thành: * Rừng gỗ: là rừng bao gồm chủ yếu các loài cây thân gỗ.
- Rừng cây lá rộng: là rừng có cây lá rộng chiếm trên 75% số cây.