Chương 1 KHAI QUAT VE TRO GIUP XAHOI VA PHÁP LUAT VE TRỢ GIÚP XÃ HỘI 111. Khái niệm trợ giúp xã hội Hiện nay, trong hệ thông pháp luật quốc tế van chưa có một khái niệm. chuẩn về TGXH ma chỉ để câp bing cách tiếp cận thông qua những quyển cơ bản của con người như trong Tuyên ngôn nhân quyên 1948, khuyến nghị 67 của tổ chức lao đông quốc tế ILO năm 1944 về đảm bảo phương tiện sinh sống, khuyến nghị 69 của tô chức lao đồng quốc tế ILO năm 1944 vẻ chăm sóc y tế và công tước 102-1952 quy phạm tối thiểu ASXH. Theo đó TGXH được tiếp cận với các quyên tôi thiểu của con người, đỏ lá các quyển về ăn, mặc, ở, về giáo duc, chăm sóc y tế, dam bao nhu cầu thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, „ tuổi giả.
Cho đến nay hau hết các nước đều thông nhất cho rằng TGXH 1 hình thức tương trợ cộng đồng đơn giản, phổ biển nhất và được thực hiện ‘di nhà nước, công đồng nhằm đầm bão cuộc sống cho mọi thành viên trong xã hội khi ho lâm vào tỉnh trang khó khăn, bất hạnh vì nhiễu nguyên nhân. Ở Việt Nam, mặc dủ TGXH đã được thực hiện từ rất lâu nhưng cho đến nay vẫn chưa có một đính nghĩa chính thức vé TGXH trong các văn ban pháp luật. Theo cách hiểu thông thường, cứu trợ là "giúp cho qua khỏi cơn nguy khôn" hoặc "giúp cho khỏi cơn nghèo ngặt? TGXH gồm hai nhóm từ. ghép là "cứu tế sã hội" và "trợ giúp xã hội".
Để hiểu rõ bản chất của TGXH chúng ta bắt dau di từ khái miệm "cửu tế xã hội". Theo từ điển bách khoa toán. thư Viết Nam, cum từ "cứu tế 2 hội" được định nghĩa la “sự tợ giúp bằng tiền hoặc hiện vật có tính cấp tiết, "cấp cứu" ở mức độ cẩn tiết cho những. 1 Nggẫn Nur Ý (Chả ity (1998), Bet Từ ấn cg ức Yo Vin hỏa thông, Bì Nột 3 Nggễn Nh Ý, Sa lì người lâm vào hoàn cảnh bẵn cùng Kiông có khả năng te lo liệu cuộc sống hang ngéy của bản thân và gia đình'Ê.
Cứu tê xã hội mang tính tức thời, tính cấp cứu nhằm giúp cho đổi tương tam thời thoát khỏi tình cảnh hiểm nghèo Đối tượng của cứu tế sã hội chủ yêu lả những người với những nguyên nhân. rủi ro, bat hạnh khác nhau dẫn đến cuộc sống bi đe dọa nghiêm trọng, không. có sự cứu tế thi ban thân va gia đính có thể bi nguy hại đến cuộc sống, thêm chi có thé dẫn đến cái chết (chết đói, chết rét. Hình thức thực hiện cứu tế xã hội rất phong phú và linh hoạt.
Cứu té có thể bằng tiền hoặc bằng hiện vật Trên thực tế, cửu tế zẽ hội thường được áp dung đổi với đối tượng bi thiệt hai do thiên tai, hoặc tai hoa bat thường khác, hoặc lả những người cần được trợ giúp trong một khoảng thời gian ngắn, giúp ho vượt qua tình trang khó khăn nguy kích của cuộc sống Khác với cửu tế zã hội, TGXH vừa có tính tức thời, vừa có tính lâu. dai trong đó tinh lâu dai la chủ yếu. TGXH là "ghip đỡ thêm bằng tiền hoặc các điều kiện sinh sống thích hợp dé đối tượng được trợ giúp có thé phát muy năng tự lo liêu cuộc sống cho minh và gia đình sớm hòa nhập vào cong đồng""' Hay trong một số công trình nghiên cửu, cho rằng TGXH fa sw báo đấm và giúp đố cũa Nhà nước, sự hỗ trợ của nhân dân và công đẳng quốc tễ VỀ tha nhdp và các điều tiện sinh sẵng bằng các biên pháp và hình thức khác nhan đổi với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bắt hanh, nghèo đói, thiệt thôi, yễu thé hoặc int hãng trong cuộc sống kit ho Rhông đủ khả năng tự io được cuộc sống tỗi thiéu của bản thân và gia đình". TGXH không có tính.
"tức thời" "cấp cứu" bằng cứu tế xã hội. TGXH thường én định lâu dai và có tính đến việc phát huy nội lực của bản thân đổi tượng để vươn lên vượt hoàn. cảnh, hòa nhập với cộng đồng. đỆn háo win hy Việt Nem, Tp L 4 Nên beh hoa toàn ar Việt Num Tp L.
Mai Ngọc Cuing (2009), đoyg tà hn Ot lý hố chi sách an sind x li Z Tim, Ne chê hi góc ga, lí Một Như vậy, dua trên quan điểm của quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng, TGXH có thể hiểu: Trợ giúp xãhội là sự giúp đỡ của Nhà nước, xã hột và cộng đồng bằng những biên pháp và các hình thức khác nhau đối với các đổi tương bị lâm vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh nghèo đôi. vì những nguyên nhân khác nhan dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu cuộc sống tắt thiễu của bản thân và gia đình nhằm giúp họ tránh được mỗi đe doa của cuộc. sống thường nhật hoặc ghip ho vượt qua nhiing Rhó khăm, dn đih cuộc sống. và hòa nhập công đồng.
Dưới góc đô kinh tế, TGXH la dam bảo nguôn thu nhập tối thiểu cho cuộc sống của một bộ phân dân cư trong xã hội khi họ bi rơi vào tỉnh trang khó khăn, bất hạnh, hiểm nghéo.nén có mức sống thấp hơn mức sống tôi thiểu của xã hội. Họ không co khả năng tự dim bảo nhu câu sống tối thiểu của ‘ban thân và gia đính mà tự minhkhông thể khắc phục được va cân có sự nâng. đỡ về vật chất để vượt qua khó khăn đó. TGXH 1a hoạt động không nhằm.
‘muc đích kinh đoanh, lợi nhuên nhưng lại có ý nghĩa 1a công cụ phân phối lại tiển bạc, của cải, dich vụ cho các thành viên xã hội gặp bat hạnh, thu hep dân. sử chênh lệch mức sống, giảm bớt ban cùng, nghèo đồi Dưới góc độ xã hội, có thể hiểu TGXH là sự tương trợ công đồng co tính 2 hội sâu sắc. TGXH la biện pháp hỗ trợ của Nha nước, công đẳng và xã hội cho các thảnh viên của minh khi họ gặp khó khăn, rủi ro nhằm giảm thiểu. những bat én xã hội, duy tri Gn định xã hội.
Theo đó, những khó khăn bat ranh của mỗi cá nhân được cả xã hội chia sé, gánh vac ma không doi hỏi một nghia vụ trực tiếp nao về tài chính. Ở đây không có sự phân biệt vé đổi tương. hưởng cũng như chủ thé thực hiện, hon thé nữa lại là yêu tổ tạo nến sự hòa đẳng giữa các thành viên trong zã hội. Cũng vi những ý nghĩa xã hội của minh ma TGXH được coi là hình thức tương trợ cộng dong phé biển nhất, thé hiện tính nhân văn sâu sắc của mỗi cá nhân vả có sức hút hấp dan trước những giá tri nhân ban của con người 13 Trên thực tế hiện nay, chúng ta bắt gấp các cách sử dung khác nhau vẻ thuật ngữ "cứu trợ sã hôi" hay "bao trợ xã hội", "tro giúp xã hồi" trong các van bản pháp luật, ti liêu tham khảo, công trình nghiên cứu.
Vậy có sự khác nhau cơ bản nảo trong các cách sử dụng thuật ngữ hiên nay? Như trên, tác giã trinh bảy trong nhiễu trường hợp khái niêm TGXH và cứu trợ sã hội được hiểu đẳng nghĩa với nhau, còn bảo trợ xã hội theo nghĩa truyền thống là tạ cơ chỗ, chính sách và các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ những đối tượng yêu thé, thiệt thòi trong cuộc. sống én dmh cuộc sống và hòa nhập cộng đồng nhu người già. người tem tật, tré om cô hoàn cảnh đặc biệt.và những người có hoàn cảnh đặc biệt khác"® Dù được sử dung đưới bat ky thuật ngữ nào, chúng ta đều nhận thấy, đặc trưng chung của TGXH, bão tro 28 hội và cửu trợ 2 hội là -_ Đổi tượng được hưởng chế đô, bao gồm mọi người dân không có sự phân biệt khi gặp phải những rũ ro, bat banh, khó khăn. trong cuộc sing - Ngiấa vụ đóng gdp không đặt ra như một yêu cầu đối với người được hưởng cỏ tính đến tinh trang kinh tế (thu nhập va tai sin) của ho.
~ Mức trợ cấp được xác định dua trên nhu cầu thực sự vả thiết yếu của người hưởng, - Mục đích trợ cấp nhằm duy trì cuộc sông cia người thụ hưởng va ia đính họ chứ không nhằm khôi phục lại mức sống của ho như trước khi gặp rủi rõ bất hạnh. Chính vi sự tương đồng, không có sự phân biệt đáng kể như trên nên trong thời gian dai chúng ta sử dung thuết ngữ "cứu trợ xã hội" trong các vẫn. bản pháp luật của Nha nước như Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09032001 của chính phủ, Thông tư số 18/2000/TT-BLDDTBXH ngày 28/07/2000 của Bộ Lao đông - Thương binh và Xã hội. hay các giáo trình "an sinh xã hội" của trường Đại học Luật Hà Nội, giáo trình "cửa trợ sã hội" 6.
uởng Đạt học Lao đồng. số hội 2007), Giáo nn Dd mén cn si xã hội Wb Lao đông sổ hột 14 của Bai học Lao động - Xã hội. Với sự ra đời của Nghỉ định số 67/2007/NĐ- CP ngày 13 04.2007 của Chính phủ vả hiện là Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/201 Quy định chỉnh sách TGXH đối với đôi tương bao trợ x8 hội thuật ngữ "bao tro xã hội" lại được sử dung nhiều. Gan đây, trong các dé tải nghiên cứu khoa học khái niềm "tro giúp 24 hội" cũng được sử dụng phổ biển.
Như vậy, theo quan điểm của tác giả sử dụng thuật ngữ "cứu trợ xã hội", "bao trợ xã hội" hay "trợ giúp xã hôi" sẽ không có sự khác nhau về nội dung cầu thành của nó trong giai đoạn nghiên cứu hiện nay. Khái niệm pháp luật trợ giúp xã hội 12. Định nghĩa pháp lật trợ giúp xã lội Trợ giúp zã hội 1a một bô phân cấu thành của hệ thing ASXH. Hiểu theo một cách đơn giần nhất, TGXH la sự giúp đổ (tro giúp) của Nha nước và xã hội v thu nhập và các điều kiên sinh sống thiết yêu đổi với moi thành viền của xã hội trong những trường hợp bat hạnh, rũ ro, nghèo đói.
mà họ không có đủ khả năng tự lo được để đâm bảo cuộc sống tôi thiểu của họ.