ĐẶT VẤN ĐỀ Từ những thời kỳ xƣa con ngƣời tồn tại đƣợc phải nhờ cỏ cây và muông thú xung quanh làm thức ăn, quần áo mặc, xây nhà ở và làm thuốc chữa bệnh. Họ phải đấu tranh không ngừng với bệnh tật bằng sử dụng những cây cỏ hoang dại, bằng những sinh vật xung quanh, bằng những gì có thể có và đã tìm ra những cách chữa bệnh cho mình. Tùy theo trình độ văn hóa của các dân tộc khác nhau mà mức độ sử dụng nguồn tài nguyên thực vật nhiều hay ít hay nói cách khác tùy thuộc vào kiến thức bản địa của các dân tộc đó tích lũy đƣợc. Đối với đồng bào dân tộc miền núi, việc sử dụng cây cỏ trong cuộc sống đã gắn họ với thiên nhiên một cách chặt chẽ [31].
Tổ tiên chúng ta đã phát hiện và sử dụng các loài cây chữa tinh dầu cho những mục đích khác nhau: làm thuốc, làm gia vị, làm hƣơng liệu,… trong sinh hoạt và trong các nghi lễ về tôn giáo. Ngày nay, với sự phát triển mạnh của Khoa học – công nghệ, với sự nâng cao không ngừng về đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của toàn xã hội thì nhu cầu đối với tinh dầu cũng ngày một tăng lên nhanh chóng [24]. Xã Quản Bạ là một xã thuộc huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang có diện tích 24.87 km²,dân số 3.145 ngƣời, mật độ dân số đạt 126,5 ngƣời/km². Xã Quản Bạ đƣợc chia thành 9 thôn bản bao gồm: Nà Vìn, Lũng Kháy, Khung Nhung, Pản Hò, Trúc Sơn, Nặm Đăm, Cổng Trời, Nà Khoang và Nam Sơn với 11 dân tộc cùng sinh sống.
Trong đó H’Mông, Dao, Tày là 3 dân tộc chiếm tỷ lệ lớn nhất lần lƣợt là 56,7%; 21,2% và 18% còn lại là các dân tộc khác. Cuộc sống của đồng bào dân tộc nơi đây từ bao đời nay phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên, núi rừng. Chính vì vậy đồng bào đã tích lũy đƣợc nhiều kinh nghiệm cũng nhƣ kiến thức trong sử dụng các loài lâm sản ngoài gỗ trong đó có các loài cây có tinh dầu và đƣợc lƣu truyền tƣ thế hệ này sang thế hệ khác nhƣ sử dụng thực vật làm thuốc, làm gia vị, hƣơng liệu hay làm thức ăn,…đặc biệt, các loài cây có tinh dầu đƣợc ngƣời dân nơi đây sử dụng khá là phong phú. Để góp phần bảo tồn kiến thức về sử dụng các loài thực vật đã đƣợc ngƣời dân tích lũy từ xa xƣa nói 1 chung và các loài thực vật có tinh dầu nói riêng cũng nhƣ đề xuất một số giải pháp trong bảo tồn, khai thác và sử dụng hợp lý các loài thực vật có tinh dầu cho khu vực nghiên cứu tôi tiến hành thực hiện đề tài: Nghiên cứu tri thức bản địa về sử dụng các loài thực vật có tinh dầu của người dân tại xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.
2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm. Văn hoa kiến thức truyền thống (Traditional knowledge), kiến thức bản xứ (Indigenous knowledge) hay kiến thức bản địa (Local knowledge) là hệ thống kiến thức của các dân tộc hoặc của một cộng đồng tại một khu vực cụ thể nào đó. Nó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng (già, trẻ, nam, nữ,…) ở một vùng nhất định.
Văn hóa kiến thức truyền thống đƣợc hình thành trực tiếp từ lao động và sinh hoạt văn hóa của mọi ngƣời dân trong cộng đồng, đƣợc hoàn thiện dần và truyền thụ chủ yếu bằng truyền miệng, truyền tay trong gia đình, thôn bản hoặc qua ca dao, dân ca, tục ngữ, truyện kể, sử thi, luật tục,… [2]. Lâm sản ngoài gỗ (Non timber forest product – NTFP, hoặc Non wood forest products – NWFP) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, đƣợc khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng [10]. Tinh dầu là một hỗn hợp của những hợp chất hữu cơ có cấu tạo phân tự phức tạp và khác nhau về cả các đặc tính lý học cũng nhƣ hoa học. Tinh dầu có những đặc tính chung sau: - Tất cả các loại tinh dầu đều là những hợp chất lỏng, sánh, có hoạt động quang học, gây hiện tƣợng quay cực của ánh sáng.
- Đa số các loài tinh dầu thƣờng có tỷ trọng nhỏ hơn nƣớc (d<1), không tan hoặc tan rất ít trong nƣớc, nhƣng lại tan trong các dung môi hữu cơ. Riêng ở một số loài: Hƣơng lau, Hƣơng nhu, Quế, Xá xị,…trong tinh dầu có chữa những cấu tử có phân tử lƣợng lớn, nặng hơn nƣớc và thƣờng chìm trong nƣớc. - Có mùi thơm, do trong thành phần của tinh dầu có các cấu tử dạng tự do. - Tinh dầu có khả năng bay hơi.
Đây là một đặc điểm giúp ta rất dễ phân biệt tinh dầu và dầu béo khi điều tra phát hiện các cây tinh dầu trong điều kiện thức địa. - Có phản ứng acid hay trung tính [24] 3 Tinh dầu của mỗi loài thực vật là một hỗn hợp bao gồm hàng trăm hợp chất thuộc các nhóm chất hữu cơ khác nhau. Tỷ lệ của các thành phần riêng lẻ có thể thay đổi rất lớn ở các điều kiện sinh trƣởng khác nhau, ở các pha sinh trƣởng khác nhau hoặc ở các bộ phận khác nhau của cây, nhƣng số lƣợng của các thành phần là không thể thay đổi trong phạm vi loài (Bugaenco, 1985). Khi nghiên cứu các mô thực vật, có thể tìm thấy một số hợp chất nào đấy là thành phần của tinh dầu (các terpen, alcohol,…), trong trƣờng hợp này chúng là các chất trung gian của quá trình trao đổi chất trong cơ thể.
Tinh dầu đƣợc tích lũy ở các cấu trúc chuyên hóa gọi là cơ quan tiết [24]. Tình hình nghiên cứu kiến thức bản địa và thực vật có tinh dầu trên thế giới. Sơ lƣợc về nghiên cứu kiến thức bản địa trong sử dụng thực vật. Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XIX thế giới Âu – Mỹ đã quan tâm đến kiến thức truyền thống và đã có nhiều công trình sƣu tầm nghiên cứu về lĩnh vực này.
Hiện nay có trên 3000 chuyên gia tại 124 nƣớc hoạt động trong lĩnh vực kiên thức truyền thống. Một mạng lƣới quốc tế nghiên cứu và ứng dụng kiến thức truyền thống đƣợc thành lập. Nhiều quốc gia tích cực đẩy mạnh việc nghiên cứu kiến thức truyền thống nhƣ Mỹ, Canada, Hà Lan, Ấn Độ, Indonexia, Philipin, Costa Rica, Veneduela, Colombia, Peru, Bolivia,…[2]. Thuật ngữ “Tri thức bản địa” đƣợc dùng lần đầu tiên trong ấn phẩm của Robert Chambers xuất bản năm 1979.
Sau đó, Brokensha và D.Warren sử dụng vào năm 1980 và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay. Một số công trình nghiên cứu của học giả nƣớc ngoài đã đề cập đến tri thức bản địa và vai trò của nó đối với sự phát triển trong xã hội đƣơng đại [32]. Hiện nay, các nghiên cứu về kiến thức bản địa trên thế giới trong đó nghiên cứu về tri thức bản địa trong sử dụng các loài thực vật rất nhiều với một số các nghiên cứu điển hình: Năm 1999, Augustine Hellier và cộng sự để đánh giá tính hữu dụng của các cuộc điều tra nhanh về kiến thức bản địa từ đó đánh giá xu hƣớng đa dạng 4 sinh học, một nghiên cứu điển hình đã đƣợc thực hiện ở hai cộng đồng nông thôn, Juznajab và Muquenal, ở Chiapas, Mexico. Trong cả hai cộng đồng, mức độ che phủ rừng đƣợc ngƣời dân địa phƣơng cho là đã giảm đáng kể trong những thập niên gần đây, với mức độ che phủ rừng hàng năm lần lƣợt là 0.6% do ngƣời dân ở Juznajab và Muquenal ƣớc tính.
Kết quả từ đánh giá nhanh nông thôn (RRA) chỉ ra rằng điều này đi kèm với sự suy giảm đáng kể trong sự phong phú của các loài hữu ích. Ở Juznajab 60% và 79%, và ở Muquenal 96% và 85% các loài thực vật và động vật đã bị suy giảm. Sự suy giảm này là kết quả của việc sử dụng quá mức cũng nhƣ thay đổi môi trƣờng sống. Ví dụ, hầu hết các loài cây dùng làm gỗ và các loài động vật cho thịt đã giảm đáng kể ở cả hai cộng đồng.
Kết quả này chỉ ra rằng kiến thức bản địa là một nguồn thông tin có giá trị về xu hƣớng đa dạng sinh học, đƣợc đánh giá trong các đánh giá đa dạng sinh học nhanh và kết hợp với quá trình quản lý tài nguyên của các cộng đồng địa phƣơng. Tuy nhiên, mâu thuẫn giữa các ghi nhận, nhận định của ngƣời dân địa phƣơng và thu đƣợc từ các nguồn khác cho thấy sự cần thiết phải thận trọng trong việc sử dụng kiến thức bản địa cho mục đích này [42]. Năm 2003 Joana Camejo-Rodrigues và cộng sự nghiên cứu thực vật dân tộc học về cây thuốc và cây hƣơng liệu tại Vƣờn tự nhiên của "Serra de São Mamede" (Bồ Đào Nha). Nghiên cứu phỏng vấn ngẫu nhiên 45 ngƣời thông tin thu đƣợc đã cung cấp dữ liệu về 165 loài thực vật hữu ích, trong đó 150 loài sử dụng làm thuốc hoặc hƣơng liệu.
224 tên địa phƣơng đã đƣợc ghi nhận, 98 trong số đó đã không đƣợc ghi nhận trƣớc đây. Các loài có liên quan nhất đƣợc đề cập trong bài báo này, cùng với tên địa phƣơng, các bộ phận đƣợc họ sử dụng, các thói quen sử dụng (hoặc các vấn đề cuộc sống), các quy trình pha chế và sử dụng, và số lƣợng sử dụng. Đây là nghiên cứu đầu tiên về cây thuốc và hƣơng liệu ở Bồ Đào Nha sử dụng phƣơng pháp luận dân tộc học [44]. Năm 2005 Luiz Rodrigo Saldanha Gazzaneo và cộng sự nghiên cứu kiến thức và sử dụng cây thuốc từ các chuyên gia địa phƣơng trong khu vực rừng Đại Tây Dƣơng ở Pernambuco (Đông Bắc Brazil).
Nghiên cứu này nhằm: thu thập 5 thông tin từ các cộng đồng địa phƣơng về việc sử dụng cây thuốc từ rừng Đại Tây Dƣơng; xác minh nguồn thực vật sử dụng làm thuốc; xác định mỗi quan hệ của các loài khảo sát; tính toán sự đồng thuận thông tin của ngƣời cung cấp tin liên quan đến việc sử dụng cây thuốc. Dữ liệu thu đƣợc bằng cách sử dụng phỏng vấn bán cấu trúc để ghi lại các thông tin cá nhân của ngƣời đƣợc phỏng vấn và các chủ đề liên quan đến việc sử dụng thuốc của cây cụ thể. Các thông tin thu thập đƣợc đại diện cho 125 cây, thuộc 61 họ thực vật, trong khi có ít cây bản địa [45]. Năm 2007, Haile Yineger và Delenasaw Yewhalaw nghiên cứu điều tra và sử dụng các loại cây thuốc chữa bệnh bằng phƣơng pháp chữa bệnh truyền thống tại quận Sekoru, khu Jimma, Tây Nam Ethiopia.