Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong lĩnh vực hóa học hữu cơ hiện đại, nghiên cứu tổng hợp các hợp chất dị vòng đóng vai trò trung tâm nhằm tìm kiếm các cấu trúc mới có hoạt tính sinh học ứng dụng trong y dược và nông nghiệp. Các hợp chất dị vòng chứa nitơ và lưu huỳnh như 1,3,4-thiadiazole và 1,3-thiazolidin-4-one nhận được sự quan tâm nghiên cứu đặc biệt do phổ hoạt tính dược lý phong phú, bao gồm kháng khuẩn, kháng nấm, kháng virus, chống lao phổi, chống co giật, giảm đau, kháng viêm, chống lo âu, chống trầm cảm và tiềm năng chống ung thư.

Đối với dị vòng 1,3-thiazolidin-4-one, các công bố khoa học chỉ ra rằng sự hiện diện và bản chất hóa học của nhóm thế tại vị trí số 5 trên vòng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt tính sinh học. Việc kết hợp đồng thời hai khung dị vòng 1,3,4-thiadiazole và 1,3-thiazolidin-4-one trong cùng một cấu trúc phân tử, sau đó ngưng tụ với các nhóm arylidene mang các nhóm thế khác nhau tại vị trí C-5, được tác giả xác định là hướng tiếp cận nhằm cải thiện hoạt tính kháng khuẩn của phân tử mục tiêu. Đề tài khóa luận tốt nghiệp được thực hiện với tên: "Tổng hợp và nghiên cứu cấu trúc của một số hợp chất 5-arylidene-2-imino-3-(5-methyl-1,3,4-thiadiazol-2-yl)-1,3-thiazolidin-4-one".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể thành 4 nội dung:

  1. Tổng hợp và chuyển hóa hợp chất ban đầu 2-amino-5-methyl-1,3,4-thiadiazole thành dẫn xuất chứa dị vòng thiazolidine, sau đó thực hiện phản ứng ngưng tụ với các aldehyde thơm để tạo thành dãy hợp chất 5-arylidene-2-imino-3-(5-methyl-1,3,4-thiadiazol-2-yl)-1,3-thiazolidin-4-one.
  2. Khảo sát tính chất vật lý của các chất tổng hợp được, bao gồm trạng thái tồn tại, màu sắc, dung môi kết tinh và nhiệt độ nóng chảy.
  3. Xác định và chứng minh cấu trúc phân tử của 2-imino-3-(5-methyl-1,3,4-thiadiazol-2-yl)-1,3-thiazolidin-4-one cùng các dẫn xuất tổng hợp được thông qua phối hợp các phương pháp phổ nghiệm: phổ hồng ngoại (FT-IR), phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton ($^1\text{H-NMR}$) và phổ khối lượng phân giải cao (HR-MS).
  4. Thăm dò hoạt tính kháng khuẩn in vitro của các hợp chất 5-arylidene-2-imino-3-(5-methyl-1,3,4-thiadiazol-2-yl)-1,3-thiazolidin-4-one tổng hợp được trên các chủng vi khuẩn Gram dương và Gram âm chuẩn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Dãy 7 hợp chất hữu cơ dị vòng, bao gồm chất nền trung gian và các dẫn xuất ngưng tụ: 2-amino-5-methyl-1,3,4-thiadiazole (kí hiệu là 1), 2-chloro-$N$-(5-methyl-1,3,4-thiadiazol-2-yl)acetamide (kí hiệu là 2), 2-imino-3-(5-methyl-1,3,4-thiadiazol-2-yl)-1,3-thiazolidin-4-one (kí hiệu là 3) và 4 dẫn xuất 5-arylidene tương ứng với các nhóm thế ở vị trí para trên vòng benzene: $-\text{OCH}_3$ (4a), $-\text{Cl}$ (4b), $-\text{Br}$ (4c), $-\text{NO}_2$ (4d).
  • Phạm vi không gian: Thực nghiệm tổng hợp hóa học và đo phổ FT-IR, nhiệt độ nóng chảy được tiến hành tại Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh; thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn thực hiện tại Phòng thí nghiệm Vi sinh, Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh; đo phổ $^1\text{H-NMR}$ tại Viện Hóa học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Hà Nội); đo phổ HR-MS tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài hoàn thành và bảo vệ vào tháng 5 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết hóa học hữu cơ về phản ứng của các hợp chất dị vòng và cơ chế phản ứng ở mức độ phân tử, cụ thể:

  • Lý thuyết cơ chế phản ứng: Phản ứng đóng vòng tạo dị vòng 1,3,4-thiadiazole từ dẫn xuất thiosemicarbazide và acid carboxylic theo cơ chế thế nucleophile vào nhóm carbonyl kèm tách nước; phản ứng acyl hóa nhóm amino bằng dẫn xuất chloroacetyl chloride theo cơ chế cộng - tách nucleophile; phản ứng tạo vòng 1,3-thiazolidin-4-one qua hai giai đoạn gồm thế nucleophile lưỡng phân tử ($\text{S}_\text{N}2$) giữa nguyên tử clo với tác nhân ion thiocyanate ($\text{SCN}^-$) và đóng vòng nội phân tử kèm chuyển vị proton; phản ứng ngưng tụ croton hóa giữa hợp phần methylene hoạt động tại vị trí C-5 của vòng thiazolidinone với aldehyde thơm dưới xúc tác acid - base.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được triển khai đồng bộ:

  • Phương pháp tổng hợp hữu cơ: Sử dụng kỹ thuật đun hồi lưu nhiệt độ kiểm soát trong các hệ dung môi hữu cơ chọn lọc (acid sulfuric đặc, chloroform, acetone khan, acid acetic băng) kết hợp các tác nhân phản ứng; phương pháp tách cô lập sản phẩm bằng kết tủa phân đoạn và tinh chế bằng kết tinh lại trong ethanol hoặc hệ dung môi thích hợp.
  • Phương pháp xác định tính chất vật lý và phổ nghiệm cấu trúc:
    • Đo nhiệt độ nóng chảy bằng phương pháp mao quản trên thiết bị Gallenkamp.
    • Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR) ghi trên máy FTIR-8400S SHIMADZU theo kỹ thuật ép viên nén KBr.
    • Phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton ($^1\text{H-NMR}$) đo trên máy Bruker Avance tần số 500 MHz, dung môi hòa tan DMSO-$d_6$, sử dụng chất chuẩn nội tetramethylsilane (TMS).
    • Phổ khối lượng phân giải cao (HR-MS) sử dụng nguồn ion hóa phun mù điện tử đo trên thiết bị Bruker micrOTOF-Q 10187.
  • Phương pháp khảo sát hoạt tính kháng khuẩn: Áp dụng phương pháp khuếch tán giếng thạch của Egorov trên môi trường dinh dưỡng thạch thịt pepton (MPA) gồm: 5 g cao thịt, 5 g pepton, 5 g natri clorua khan, 20 g agar, hòa tan trong 1000 ml nước cất vô trùng. Đánh giá tác động ức chế của các chất tổng hợp ở hai nồng độ khảo sát (0,3% và 0,5%) đối với 4 chủng vi khuẩn thực nghiệm: Bacillus subtilis (+), Staphylococcus aureus (+), Escherichia coli (-), Pseudomonas aeruginosa (-), thông qua đo kích thước hiệu số đường kính vòng vô khuẩn ($D - d$, mm).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến cấu trúc, tính chất hóa học và hoạt tính sinh học của hai hệ dị vòng nền tảng:

  • Dị vòng 1,3,4-thiadiazole: Là dị vòng 5 cạnh chứa 2 dị tố nitơ và 1 dị tố lưu huỳnh. So với hai đồng phân 1,2,4-thiadiazole và 1,2,3-thiadiazole, hệ vòng 1,3,4-thiadiazole được khảo sát tổng hợp nhiều nhất nhờ các ứng dụng dược lý phong phú. Vòng 1,3,4-thiadiazole hầu như không tham gia phản ứng thế electrophile nhưng rất nhạy cảm với tác nhân nucleophile mạnh (có thể dẫn đến phản ứng phân hủy hoặc chuyển vị tạo triazolinthione). Tác giả tổng kết các con đường tổng hợp dị vòng này từ thiosemicarbazide, dẫn xuất hydrazide hoặc bithiourea.
  • Dị vòng thiazolidin-4-one và 2-imino-1,3-thiazolidin-4-one: Khung dị vòng no chứa nitơ và lưu huỳnh ở vị trí 1, 3 gắn nhóm carbonyl tại vị trí 4. Các nghiên cứu tiền nhiệm xác nhận các dẫn xuất thiazolidin-4-one thể hiện khả năng chống co giật phụ thuộc liều lượng (30, 100, 300 mg/kg thể trọng), độc tính thần kinh và kháng nấm rõ rệt (ức chế 30–55% trên Aspergillus flavus, Aspergillus niger, Candida albicans ở nồng độ 50 và 100 ppm). Dẫn xuất 2-imino-1,3-thiazolidin-4-one ($M = 116\text{ g/mol}$) có hợp phần methylene linh động tại C-5, dễ tham gia phản ứng ngưng tụ với aldehyde thơm tạo các dẫn xuất 5-arylidene làm tăng mạnh hoạt tính sinh học, đặc biệt khi gắn các nhóm thế hút electron (như halogen, nitro) tại nhân thơm.

Chương 2: Thực nghiệm

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm, hóa chất sử dụng và thiết bị phân tích:

  • Tổng hợp 2-amino-5-methyl-1,3,4-thiadiazole (1): Phản ứng giữa 18 g thiosemicarbazide với 34,8 ml acid acetic ($d = 1,05\text{ g/ml}$, 0,6 mol) khi có mặt 30 ml $\text{H}_2\text{SO}_4$ đặc, đun hồi lưu 2 giờ. Sau phản ứng, hỗn hợp được đổ vào 120 ml nước đá, kiềm hóa bằng dung dịch $\text{NH}_4\text{OH}$ 25%, lọc kết tủa và kết tinh lại trong ethanol.
  • Tổng hợp 2-chloro-$N$-(5-methyl-1,3,4-thiadiazol-2-yl)acetamide (2): Hòa tan 2,3 g chất 1 (0,02 mol) và 1,38 g $\text{K}_2\text{CO}_3$ trong khoảng 40 ml chloroform. Thêm từ từ dung dịch chứa 2,48 g chloroacetyl chloride trong 8 ml chloroform ở điều kiện ngâm bình cầu trong nước đá. Đun hồi lưu hỗn hợp trong 30 phút, lọc thu kết tủa trắng và kết tinh lại trong hệ ethanol : nước.
  • Tổng hợp 2-imino-3-(5-methyl-1,3,4-thiadiazol-2-yl)-1,3-thiazolidin-4-one (3): Đun hồi lưu cách thủy trong 6 giờ hỗn hợp gồm 1,915 g chất 2 (0,01 mol) và 1,52 g $\text{NH}_4\text{SCN}$ (0,02 mol) trong 50 ml acetone khan. Tinh chế chất rắn tách ra bằng kết tinh lại trong ethanol.
  • Tổng hợp các dẫn xuất 5-arylidene (4a–d): Đun hồi lưu trong 5 giờ hỗn hợp gồm 2,5 mmol chất 3 (0,535 g), 2,5 mmol aldehyde thơm tương ứng (0,340–0,4625 g) và 3,0 mmol natri acetate (0,246 g) trong 30 ml acid acetic băng. Đổ hỗn hợp vào 30 ml nước đá, lọc lấy chất rắn và kết tinh lại trong dung môi thích hợp.
  • Kỹ thuật xác định cấu trúc và thử nghiệm vi sinh: Ghi nhận chi tiết thông số thiết bị đo nhiệt độ nóng chảy Gallenkamp, máy đo phổ FTIR-8400S, Bruker Avance 500 MHz, Bruker micrOTOF-Q và quy trình cấy trải, đục lỗ thạch đo đường kính vòng vô khuẩn theo tiêu chuẩn Egorov.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm, cơ chế hóa học, biện luận phổ nghiệm và dữ liệu vi sinh:

  • Hợp chất 1: Thu được 19,98 g bột màu trắng ngà, hiệu suất đạt 87,85%, nhiệt độ nóng chảy $222,2^\circ\text{C}$ (phù hợp với tài liệu tham khảo là $223^\circ\text{C}$). Phổ FT-IR xuất hiện đám hấp thụ tù của liên kết $\text{N-H}$ tại $3289\text{ cm}^{-1}$ và $3096\text{ cm}^{-1}$, dao động hóa trị $\text{C=N}$ ở $1641\text{ cm}^{-1}$, $\text{C}_{sp^3}\text{-H}$ ở $2810\text{ cm}^{-1}$. Phổ $^1\text{H-NMR}$ xuất hiện 2 mũi singlet với tỷ lệ tích phân $3 : 2$, gồm proton nhóm $-\text{CH}_3$ tại $\delta = 2,50\text{ ppm}$ và proton nhóm $-\text{NH}_2$ tại $\delta = 6,96\text{ ppm}$.
  • Hợp chất 2: Thu được 2,58 g bột màu trắng, hiệu suất đạt 67,36%, nhiệt độ nóng chảy $229,5^\circ\text{C}$. Phổ FT-IR có pic hấp thụ mạnh của nhóm carbonyl amide $\text{C=O}$ tại $1697\text{ cm}^{-1}$ (dấu hiệu phân biệt với 1), liên kết $\text{C=N}$ ở $1578\text{ cm}^{-1}$, $\text{N-H}$ ở $3179\text{ cm}^{-1}$, $\text{C}_{sp^3}\text{-H}$ ở $2945\text{ cm}^{-1}$. Phổ $^1\text{H-NMR}$ ghi nhận 3 mũi singlet với tỷ lệ tích phân $3 : 2 : 1$ gồm nhóm methyl ($\delta = 2,53\text{ ppm}$), nhóm $-\text{CH}_2\text{Cl}$ dịch chuyển về trường yếu ($\delta = 4,42\text{ ppm}$) do ảnh hưởng giảm chắn của nguyên tử clo và nhóm carbonyl, cùng proton $-\text{NH}-$ amide tại $\delta = 12,73\text{ ppm}$.
  • Hợp chất 3: Thu được 1,36 g bột màu vàng, hiệu suất 63,55%, nhiệt độ nóng chảy $236^\circ\text{C}$. Phản ứng khép vòng diễn ra qua sự thế $\text{S}_\text{N}2$ của $\text{SCN}^-$ vào nhóm $-\text{CH}_2\text{Cl}$, tiếp theo là sự tấn công nucleophile nội phân tử của nguyên tử nitơ amide vào carbon thiocyanate kèm chuyển vị proton. Phổ FT-IR ghi nhận sự dịch chuyển tần số dao động hóa trị của nhóm $\text{C=O}$ từ $1697\text{ cm}^{-1}$ (ở hợp chất 2) lên $1734\text{ cm}^{-1}$ (ở hợp chất 3), minh chứng đặc trưng cho nhóm carbonyl trong vòng nhỏ 5 cạnh; liên kết $\text{C=N}$ ở $1560\text{ cm}^{-1}$. Phổ $^1\text{H-NMR}$ chỉ ra 3 tín hiệu singlet: $\delta = 2,63\text{ ppm}$ ($3\text{H}, -\text{CH}_3$), $\delta = 4,07\text{ ppm}$ ($2\text{H}, -\text{CH}_2-$ của dị vòng thiazolidine) và $\delta = 12,23\text{ ppm}$ ($1\text{H}$, nhóm imine $=\text{NH}$). Phổ HR-MS cho pic ion phân tử $[\text{M}+\text{H}]^+$ tại $m/z = 215,0073$ (phù hợp với giá trị tính toán lý thuyết cho $\text{C}_6\text{H}_7\text{N}_4\text{OS}_2$ là $215,0056$) và pic đồng vị $[\text{M}+\text{H}+1]^+$ tại $m/z = 216,0054$ (chiếm $\sim 9,0%$).
  • Dãy hợp chất 5-arylidene (4a–d): Phản ứng ngưng tụ croton hóa giữa hợp chất 3 với các aldehyde thơm xảy ra nhờ xúc tác acid băng và natri acetate enol hóa nhóm methylene và proton hóa aldehyde.
    • Phổ FT-IR: Cả 4 chất đều xuất hiện pic $\text{N-H}$ ở vùng $> 3300\text{ cm}^{-1}$, liên kết $\text{C=O}$ trong khoảng $1709–1714\text{ cm}^{-1}$, $\text{C}{sp^3}\text{-H}$ ở $2918–2924\text{ cm}^{-1}$ và $\text{C}\text{Ar}\text{-H}$ ở $3030–3100\text{ cm}^{-1}$.
    • Phổ $^1\text{H-NMR}: Điểm mấu chốt chứng minh phản ứng ngưng tụ thành công là sự biến mất hoàn toàn của pic singlet $2\text{H}$ tại $4,07\text{ ppm}$ thuộc nhóm $-\text{CH}_2-$ của vòng thiazolidine, thay vào đó là sự xuất hiện của tín hiệu proton methine ($=\text{CH}-$) tại vùng $\delta = 7,74–7,88\text{ ppm}$ cùng các tín hiệu proton nhân thơm tương ứng. Nhóm methyl dị vòng thiadiazole xuất hiện ở $\delta = 2,67–2,68\text{ ppm}$ và proton nhóm imine $=\text{NH}$ dịch chuyển về vùng trường rất yếu $\delta = 12,80–13,10\text{ ppm}$.
    • Phổ HR-MS của chất 4b: Xác nhận pic ion $[\text{M}+\text{H}]^+$ tại $m/z = 336,9954$ (lý thuyết cho $\text{C}{13}\text{H}{10}\text{ClN}_4\text{OS}_2$ là $336,9979$) cùng pic đồng vị $[\text{M}+\text{H}+2]^+$ đặc trưng của hợp chất chứa 1 nguyên tử clo tại $m/z = 338,9935$ (cường độ $\sim 38,0%$).
  • Thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn: Các hợp chất 4a–d được khảo sát đường kính vòng vô khuẩn theo phương pháp đục lỗ thạch. Kết quả cho thấy mức độ ức chế phụ thuộc rõ rệt vào nồng độ và bản chất nhóm thế.

Chương 4: Kết luận và đề xuất

Tác giả đúc kết 3 kết quả chính: tổng hợp thành công 7 hợp chất hữu cơ dị vòng (trong đó có 4 dẫn xuất 4a–d chưa tìm thấy công bố trong các tài liệu tham khảo của đề tài); xác định đầy đủ tính chất vật lý và cấu trúc phân tử phù hợp lý thuyết bằng bộ ba phổ nghiệm (FT-IR, $^1\text{H-NMR}$, HR-MS); chứng minh khả năng kháng khuẩn của các chất tổng hợp đối với cả vi khuẩn Gram (+) và Gram (-). Đồng thời, đề xuất các định hướng mở rộng ngưng tụ với các aldehyde thơm khác, thử nghiệm hoạt tính kháng nấm và tối ưu hóa hiệu suất quy trình tổng hợp.


Kết quả và đóng góp

1. Số liệu thực nghiệm tổng hợp và phân tích lý - hóa

Quá trình thực nghiệm đã tổng hợp, tinh chế và xác lập đầy đủ số liệu vật lý, phổ nghiệm cho 7 hợp chất dị vòng.

Hợp chất Tên gọi hóa học Màu sắc, trạng thái Nhiệt độ nóng chảy ($^\circ\text{C}$) Hiệu suất tổng hợp (%) Dữ liệu phổ nghiệm tiêu biểu
1 2-Amino-5-methyl-1,3,4-thiadiazole Bột màu trắng ngà 222,2 87,85 IR: 3289, 3096 ($\text{NH}_2$), 1641 ($\text{C=N}$); $^1\text{H-NMR}$: $\delta$ 2,50 ($3\text{H}$), 6,96 ($2\text{H}$)
2 2-Chloro-$N$-(5-methyl-1,3,4-thiadiazol-2-yl)acetamide Bột màu trắng 229,5 67,36 IR: 1697 ($\text{C=O}$ amide); $^1\text{H-NMR}$: $\delta$ 2,53 ($3\text{H}$), 4,42 ($2\text{H}$), 12,73 ($1\text{H}$)
3 2-Imino-3-(5-methyl-1,3,4-thiadiazol-2-yl)-1,3-thiazolidin-4-one Bột màu vàng 236,0 63,55 IR: 1734 ($\text{C=O}$ lactam); $^1\text{H-NMR}$: $\delta$ 2,63 ($3\text{H}$), 4,07 ($2\text{H}$), 12,23 ($1\text{H}$); HR-MS: $m/z$ 215,0073
4a 5-(4-Methoxybenzylidene)-2-imino-3-(5-methyl-1,3,4-thiadiazol-2-yl)-1,3-thiazolidin-4-one Chất rắn Đã xác định Đã xác định $^1\text{H-NMR}$: $\delta$ 2,67 ($3\text{H}$), 3,84 ($3\text{H}$, $\text{OCH}_3$), 7,17 ($2\text{H}$), 7,64 ($2\text{H}$), 7,74 ($1\text{H}$, $=\text{CH}-$)
4b 5-(4-Chlorobenzylidene)-2-imino-3-(5-methyl-1,3,4-thiadiazol-2-yl)-1,3-thiazolidin-4-one Chất rắn Đã xác định Đã xác định $^1\text{H-NMR}$: $\delta$ 2,67 ($3\text{H}$), 7,67 ($4\text{H}$, Ar-H), 7,78 ($1\text{H}$, $=\text{CH}-$), 12,88 ($1\text{H}$); HR-MS: $m/z$ 336,9954
4c 5-(4-Bromobenzylidene)-2-imino-3-(5-methyl-1,3,4-thiadiazol-2-yl)-1,3-thiazolidin-4-one Chất rắn Đã xác định Đã xác định $^1\text{H-NMR}$: $\delta$ 2,68 ($3\text{H}$), 7,62 ($2\text{H}$), 7,80 ($2\text{H}$), 7,76 ($1\text{H}$, $=\text{CH}-$), 12,80 ($1\text{H}$)
4d 5-(4-Nitrobenzylidene)-2-imino-3-(5-methyl-1,3,4-thiadiazol-2-yl)-1,3-thiazolidin-4-one Chất rắn Đã xác định Đã xác định $^1\text{H-NMR}$: $\delta$ 2,67 ($3\text{H}$), 7,92 ($2\text{H}$), 8,41 ($2\text{H}$), 7,88 ($1\text{H}$, $=\text{CH}-$), 13,10 ($1\text{H}$)

2. Kết quả thăm dò hoạt tính kháng khuẩn

Kết quả đánh giá đường kính vòng vô khuẩn ($D - d$, mm) của 4 dẫn xuất 4a–d trên 4 chủng vi khuẩn thực nghiệm được ghi nhận tại hai nồng độ:

Hợp chất Escherichia coli (-) (0,3% / 0,5%) Bacillus subtilis (+) (0,3% / 0,5%) Pseudomonas aeruginosa (-) (0,3% / 0,5%) Staphylococcus aureus (+) (0,3% / 0,5%)
4a Yếu / Trung bình Yếu / Trung bình Yếu / Trung bình Yếu / Trung bình
4b Yếu / Trung bình Yếu / Trung bình Trung bình / Trung bình Trung bình / Trung bình
4c Yếu / Trung bình Yếu / Trung bình Yếu / Trung bình Yếu / Trung bình
4d Yếu / Trung bình Yếu / Trung bình Trung bình / Trung bình Trung bình / Trung bình
  • Ở nồng độ 0,3%: Đa số các hợp chất thể hiện hoạt tính kháng khuẩn yếu ($D - d < 15\text{ mm}$) đối với cả 4 chủng vi khuẩn; riêng hai hợp chất 4b (nhóm thế $-\text{Cl}$) và 4d (nhóm thế $-\text{NO}_2$) thể hiện hoạt tính kháng khuẩn trung bình ($15\text{ mm} \le D - d \le 20\text{ mm}$) đối với 2 chủng Pseudomonas aeruginosa (-) và Staphylococcus aureus (+).
  • Ở nồng độ 0,5%: Tất cả 4 chất tổng hợp (4a–d) đều thể hiện hoạt tính kháng khuẩn trung bình ($15\text{ mm} \le D - d \le 20\text{ mm}$) đối với toàn bộ 4 chủng vi khuẩn khảo sát.

3. Đóng góp khoa học của đề tài

Theo tác giả tự tổng kết, đóng góp chính của đề tài bao gồm:

  • Xây dựng quy trình tổng hợp ổn định gồm 4 bước từ các hóa chất cơ bản để tạo thành hệ khung liên hợp giữa dị vòng 1,3,4-thiadiazole và 1,3-thiazolidin-4-one.
  • Tổng hợp thành công 4 dẫn xuất 5-arylidene mới (4a–d) chưa được công bố trong các tài liệu tham khảo của đề tài.
  • Biện luận rõ ràng và chính xác mối tương quan cấu trúc - phổ nghiệm bằng sự kết hợp hài hòa giữa phổ hồng ngoại, cộng hưởng từ proton và phổ khối phân giải cao, cung cấp dữ liệu phổ nghiệm thực nghiệm cho hệ dị vòng liên hợp này.
  • Cung cấp dữ liệu sinh học ban đầu khẳng định tiềm năng kháng khuẩn của khung phân tử mục tiêu, chứng minh nhóm thế hút electron ở vị trí para trên vòng arylidene (4b, 4d) làm tăng hiệu lực kháng khuẩn so với nhóm đẩy electron (4a).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận đề cập một số hạn chế và hướng mở nghiên cứu trực tiếp trong văn bản:

  • Hạn chế của đề tài:
    • Số lượng dẫn xuất 5-arylidene mới chỉ dừng lại ở 4 chất mang nhóm thế tại vị trí para ($-\text{OCH}_3$, $-\text{Cl}$, $-\text{Br}$, $-\text{NO}_2$), chưa khảo sát các nhóm thế tại vị trí ortho, meta hoặc các aldehyde dị vòng khác.
    • Hiệu suất tổng hợp của các bước trung gian còn ở mức trung bình đến khá (từ 63,55% đến 87,85%), chưa tối ưu hóa toàn diện các yếu tố ảnh hưởng như thời gian phản ứng, tỷ lệ tác nhân và hệ dung môi.
    • Đánh giá hoạt tính sinh học mới dừng ở mức thăm dò định tính/bán định lượng bằng phương pháp khuếch tán giếng thạch trên 4 chủng vi khuẩn, chưa xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và chưa tiến hành thử nghiệm hoạt tính kháng nấm hay kháng tế bào ung thư dù phần tổng quan đã chỉ ra tiềm năng dược lý này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiến hành phản ứng ngưng tụ chất 3 với các benzaldehyde thế khác nhằm mở rộng thư viện các hợp chất dị vòng mới.
    • Mở rộng phạm vi thăm dò hoạt tính sinh học của các hợp chất mới tổng hợp sang hoạt tính kháng nấm.
    • Nghiên cứu kết hợp giữa các hợp chất tổng hợp được với các enzyme để đánh giá ảnh hưởng làm tăng hoặc giảm hoạt tính của chất đối với vi khuẩn và nấm.
    • Nghiên cứu, khảo sát các điều kiện phản ứng (nhiệt độ, dung môi, chất xúc tác) nhằm nâng cao hiệu suất tổng hợp của toàn bộ quy trình.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu viên thuộc chuyên ngành Hóa học hữu cơ, Hóa dược và Dược học thực hiện các đề tài liên quan đến tổng hợp các hệ dị vòng chứa lưu huỳnh và nitơ.
  • Phần thực nghiệm tổng hợp của đề tài có giá trị tham khảo thực tiễn cao nhờ quy trình mô tả cụ thể về tỷ lệ mol, dung môi, điều kiện hồi lưu và phương pháp tách - kết tinh sản phẩm.
  • Phần thảo luận phổ nghiệm là tài liệu mẫu mực trong việc phân tích và quy kết các tín hiệu phổ FT-IR (chuyển dịch tần số nhóm $\text{C=O}$ khi khép vòng), phổ $^1\text{H-NMR}$ (sự mất nhóm $-\text{CH}_2-$, quy kết hằng số ghép $J$ của hệ vòng thơm đối xứng và nhóm methine) và phổ HR-MS (phân tích pic đồng vị clo) phục vụ nghiên cứu xác định cấu trúc phân tử hữu cơ.

Câu hỏi thường gặp

1. Phản ứng khép vòng 1,3-thiazolidin-4-one từ chất 2 để tạo chất 3 diễn ra theo cơ chế nào?

Phản ứng diễn ra qua hai giai đoạn liên tiếp trong dung môi acetone khan với sự tham gia của amoni thiocyanate ($\text{NH}4\text{SCN}$): giai đoạn đầu là phản ứng thế nucleophile lưỡng phân tử ($\text{S}\text{N}2$), trong đó ion thiocyanate ($\text{SCN}^-$) tấn công vào carbon gắn clo của nhóm chloroacetamide để tách ion $\text{Cl}^-$; giai đoạn hai là phản ứng khép vòng nội phân tử khi nguyên tử nitơ amide tấn công nucleophile vào carbon mang điện tích dương của nhóm thiocyanate, sau đó xảy ra quá trình chuyển vị proton để tạo thành dị vòng 2-imino-1,3-thiazolidin-4-one.

2. Dấu hiệu phổ học quan trọng nhất chứng minh phản ứng khép vòng tạo thành chất 3 là gì?

Trên phổ FT-IR, dấu hiệu quyết định là sự chuyển dịch tần số dao động hóa trị của liên kết $\text{C=O}$ từ $1697\text{ cm}^{-1}$ (ở hợp chất trung gian dạng amide mạch hở 2) lên tần số cao hơn hẳn là $1734\text{ cm}^{-1}$ (ở hợp chất 3), hoàn toàn phù hợp với đặc điểm hấp thụ của nhóm carbonyl gắn trong vòng nhỏ 5 cạnh. Trên phổ $^1\text{H-NMR}$, tín hiệu singlet của hai proton nhóm $-\text{CH}_2-$ xuất hiện tại $\delta = 4,07\text{ ppm}$ cùng proton nhóm imine $=\text{NH}$ tại $\delta = 12,23\text{ ppm}$.

3. Bằng chứng phổ $^1\text{H-NMR}$ nào khẳng định phản ứng ngưng tụ giữa chất 3 và các aldehyde thơm đã xảy ra hoàn toàn?

Bằng chứng đặc trưng nhất trên phổ $^1\text{H-NMR}$ của các hợp chất 4a–d là sự mất đi hoàn toàn tín hiệu singlet đặc trưng của hai proton nhóm $-\text{CH}_2-$ tại $\delta = 4,07\text{ ppm}$ trong vòng thiazolidine, đồng thời xuất hiện thêm tín hiệu singlet có tích phân $1\text{H}$ của liên kết methine ($=\text{CH}-$) tại vùng trường yếu $\delta = 7,74–7,88\text{ ppm}$ cùng hệ thống tín hiệu của 4 proton vòng thơm.

4. Phổ khối lượng phân giải cao HR-MS của hợp chất 4b thể hiện đặc điểm cấu trúc gì đặc biệt?

Trên phổ HR-ESI-MS của hợp chất 4b, ngoài pic ion phân tử $[\text{M}+\text{H}]^+$ xuất hiện tại giá trị $m/z = 336,9954$ (phù hợp với công thức phân tử $\text{C}{13}\text{H}{10}\text{ClN}_4\text{OS}_2$), phổ còn ghi nhận pic đồng vị $[\text{M}+\text{H}+2]^+$ tại $m/z = 338,9935$ với cường độ tương đối xấp xỉ $38,0%$, đặc trưng cho tỷ lệ đồng vị tự nhiên của nguyên tử clo ($^{35}\text{Cl}$ và $^{37}\text{Cl}$) trong cấu trúc.

5. Khả năng kháng khuẩn của các dẫn xuất 5-arylidene phụ thuộc như thế nào vào bản chất nhóm thế trên vòng benzene?

Kết quả thử nghiệm vi sinh cho thấy ở nồng độ 0,3%, các dẫn xuất mang nhóm thế hút electron tại vị trí para như $-\text{Cl}$ (4b) và $-\text{NO}_2$ (4d) thể hiện hoạt tính kháng khuẩn trung bình ($15\text{ mm} \le D - d \le 20\text{ mm}$) đối với P. aeruginosa và S. aureus, trong khi dẫn xuất mang nhóm đẩy electron $-\text{OCH}_3$ (4a) và nhóm thế brom (4c) chỉ thể hiện hoạt tính yếu ($D - d < 15\text{ mm}$). Khi tăng nồng độ lên 0,5%, cả 4 hợp chất đều đạt mức kháng khuẩn trung bình đối với toàn bộ 4 chủng vi khuẩn thực nghiệm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Trần Thanh Trúc đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu tổng hợp và xác định cấu trúc của hệ dị vòng liên hợp gồm 7 hợp chất, trong đó có 4 dẫn xuất 5-arylidene mới (4a–d). Cấu trúc của tất cả các sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối đều được minh chứng rõ ràng thông qua phân tích chuyên sâu các dữ liệu phổ nghiệm FT-IR, $^1\text{H-NMR}$ và HR-MS. Kết quả đánh giá sinh học khẳng định các dẫn xuất tổng hợp thể hiện hoạt tính kháng khuẩn đối với cả vi khuẩn Gram (+) và Gram (-) ở nồng độ 0,5%, mở ra triển vọng cho các nghiên cứu tối ưu hóa cấu trúc và hoạt tính dược lý tiếp theo.