Tổng quan nghiên cứu
Trong giai đoạn 2008 - 2013, tình hình vi phạm pháp luật về môi trường tại Việt Nam có xu hướng gia tăng đột biến với 39.962 vụ việc được phát hiện trên phạm vi toàn quốc, tổng số tiền xử phạt hành chính vượt mức 450 tỷ đồng. Tuy nhiên, tỷ lệ vụ việc được chuyển hóa để khởi tố và xử lý hình sự chỉ chiếm khoảng 2,08% với 832 vụ án. Thực trạng này phản ánh khoảng cách rất lớn giữa mức độ vi phạm thực tế và hiệu quả chế tài của luật hình sự. Tại Thủ đô Hà Nội, sau khi mở rộng địa giới hành chính năm 2008 với diện tích 3.345,0 km2 và quy mô dân số hơn 6,2 triệu người, áp lực sinh thái từ 8 khu công nghiệp, 41 cụm công nghiệp cùng 1.350 làng nghề đã khiến tình trạng ô nhiễm không khí, nguồn nước và rác thải nguy hại diễn biến vô cùng phức tạp.
Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tội phạm môi trường, phân tích thực trạng áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thông qua công tác xét xử tại Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2008 - 2013. Luận văn đi sâu làm rõ những nút thắt pháp lý, sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật và nguyên nhân dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm trong lĩnh vực môi trường. Từ kết quả khảo sát 138 vụ án thụ lý và 127 vụ án được đưa ra xét xử với 164 bị cáo trên địa bàn Hà Nội, công trình cung cấp những luận cứ khoa học sắc bén nhằm kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự, nâng cao năng lực thực thi công lý và bảo đảm an ninh sinh thái hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết cấu thành tội phạm trong khoa học luật hình sự Việt Nam làm nền tảng phân tích bốn yếu tố cơ bản: khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm môi trường. Trong đó, khách thể được xác định là các quan hệ xã hội phát sinh trong quản lý, bảo vệ môi trường trong sạch, an ninh sinh thái và quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân theo tinh thần Điều 29 Hiến pháp năm 1992.
Công trình cũng kết hợp học thuyết tội phạm hóa và phi hình sự hóa (Criminalization and Decriminalization) để đánh giá tính tương xứng của các chế tài pháp lý đối với hành vi xâm hại môi trường tự nhiên. Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa gồm: tội phạm môi trường, khách thể tự nhiên (đất, nước, không khí, đa dạng sinh học), hậu quả nghiêm trọng và năng lực trách nhiệm hình sự. Luận văn luận giải sâu sắc quan điểm mở rộng chủ thể tội phạm sang pháp nhân thương mại dựa trên nguyên tắc công bằng pháp lý và kinh nghiệm lập pháp quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp từ 138 hồ sơ vụ án thụ lý và 127 bản án sơ thẩm, phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và các Tòa án nhân dân cấp quận, huyện từ năm 2008 đến năm 2013. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo định kỳ của Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (Bộ Công an) và Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội với quy mô bao quát hơn 39.000 vụ việc vi phạm hành chính.
Phương pháp chọn mẫu toàn bộ (comprehensive census sampling) được áp dụng đối với 100% các vụ án hình sự về môi trường được Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội thụ lý trong 6 năm (138 vụ với 174 bị can, bị cáo). Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện tuyệt đối, loại bỏ sai số thống kê và phản ánh chính xác bức tranh tư pháp hình sự tại địa bàn trọng điểm. Luận văn tích hợp phương pháp phân tích luật học thực chứng, thống kê xã hội học, tổng hợp logic và so sánh luật học đối chiếu với pháp luật hình sự của Liên bang Nga, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Singapore. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu và xử lý dữ liệu được thực hiện chặt chẽ trong mốc thời gian từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 12 năm 2013, hoàn thiện vào năm 2014.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, tồn tại sự phân hóa sâu sắc giữa công tác phát hiện vi phạm và thực tiễn xử lý hình sự. Trong khi lực lượng chức năng phát hiện hàng nghìn cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, các Tòa án nhân dân trên toàn quốc trong suốt 13 năm (2001 - 2013) chỉ xét xử 262 vụ án với 420 bị cáo. Riêng tại Hà Nội giai đoạn 2008 - 2013 đã xét xử 127 vụ với 164 bị cáo, chiếm tỷ lệ xấp xỉ 48,5% tổng số vụ án của cả nước.
Thứ hai, cơ cấu tội danh bị đưa ra xét xử thể hiện sự mất cân đối cực kỳ nghiêm trọng. Trong 127 vụ án được xét xử tại Hà Nội, có tới 118 vụ với 147 bị cáo phạm tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm (Điều 190 BLHS), chiếm tỷ lệ 92,91% tổng số vụ án. Tội hủy hoại rừng (Điều 189 BLHS) chỉ có 01 vụ với 01 bị cáo (chiếm 0,79%). Hoàn toàn vắng bóng các vụ án xét xử hành vi gây ô nhiễm không khí (Điều 182), gây ô nhiễm nguồn nước (Điều 183) hay nhập khẩu công nghệ, máy móc, chất thải không đạt chuẩn (Điều 185) với tỷ lệ 0%.
Thứ ba, chính sách hình phạt được áp dụng mang tính chất răn đe rất thấp. Trong tổng số 164 bị cáo bị xét xử tại Hà Nội:
- Hình phạt tù cho hưởng án treo chiếm ưu thế tuyệt đối với 114 bị cáo (tỷ lệ 69,51%).
- Cải tạo không giam giữ áp dụng cho 12 bị cáo (tỷ lệ 7,32%).
- Hình phạt tù có thời hạn dưới 3 năm áp dụng cho 40 bị cáo (tỷ lệ 24,39%).
- Mức án từ 3 đến 7 năm chỉ có 9 bị cáo (tỷ lệ 5,49%) và mức án nghiêm khắc từ 7 đến 15 năm chỉ duy nhất 1 bị cáo (tỷ lệ 0,61%).
Thảo luận kết quả
Khi dữ liệu được biểu diễn qua bảng cơ cấu hình phạt và biểu đồ phân bổ tội danh, thực tế tư pháp cho thấy một nghịch lý lớn: khu vực nội đô và các huyện ngoại thành Hà Nội với 1.592 bệnh viện, 11.041 doanh nghiệp xuất nhập khẩu và 196 khu, cụm công nghiệp liên vùng có lưu lượng xả thải khổng lồ nhưng không một tổ chức hay cá nhân nào bị xử lý hình sự về hành vi gây ô nhiễm. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ rào cản kỹ thuật lập pháp trong BLHS năm 1999: cấu thành tội phạm bắt buộc phải có tình tiết kép là "gây hậu quả nghiêm trọng" hoặc "đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm".
Khái niệm "hậu quả nghiêm trọng" thiếu định lượng cụ thể, không có văn bản hướng dẫn chi tiết về nồng độ độc chất hay mức độ suy thoái môi trường. Hơn nữa, Điều 190 áp dụng thành công vì có Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT hướng dẫn rõ ràng về số lượng cá thể và mức độ quý hiếm, trong khi các điều luật khác bị tê liệt do thiếu văn bản quy định dưới luật. Ngoài ra, việc quy định cá nhân là chủ thể duy nhất của tội phạm khiến cơ quan tố tụng không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các doanh nghiệp, pháp nhân xả thải trái phép. So với luật hình sự Liên bang Nga và Trung Quốc – nơi hành vi gây ô nhiễm vượt quy chuẩn kỹ thuật đều bị truy cứu trực tiếp – pháp luật Việt Nam thời kỳ này bộc lộ khoảng trống quản lý rất lớn.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, sửa đổi căn bản Bộ luật Hình sự theo hướng chính thức bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với nhóm tội phạm môi trường. Quốc hội và Bộ Tư pháp cần chủ trì loại bỏ dấu hiệu bắt buộc "đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm" tại các Điều 182, 183, 184, 185; thay thế các khái niệm trừu tượng bằng chỉ số định lượng kỹ thuật cụ thể (thể tích nước thải, nồng độ khí thải vượt quy chuẩn từ 3 lần trở lên hoặc khối lượng chất thải nguy hại từ 1.000 kg). Mục tiêu nâng tỷ lệ chuyển hóa xử lý hình sự các vụ ô nhiễm công nghiệp đạt ít nhất 15% vào giai đoạn 2016 - 2020.
Thứ hai, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Tài nguyên và Môi trường cần khẩn trương ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết các yếu tố định tội, định khung hình phạt cho Chương XVII BLHS. Thời hạn hoàn thành trước quý IV năm 2015 nhằm tháo gỡ điểm nghẽn cho các cơ quan tiến hành tố tụng cấp quận, huyện.
Thứ ba, đầu tư trang thiết bị giám định hiện trường chuyên dụng và kinh phí hoạt động cho 100% các đội Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường tại 29 quận, huyện, thị xã của Hà Nội. Tăng cường đào tạo chuyên môn kỹ thuật đo đạc sinh hóa cho đội ngũ điều tra viên và kiểm sát viên.
Thứ tư, thiết lập cơ chế phối hợp kiểm soát ô nhiễm liên tỉnh giữa thành phố Hà Nội và 8 tỉnh giáp ranh (Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Hòa Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc) nhằm giám sát chặt chẽ 196 khu công nghiệp, 134 cụm công nghiệp và các lưu vực sông trọng điểm như sông Nhuệ, sông Đáy và sông Cầu.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, các nhà lập pháp tại Quốc hội, Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp và chuyên gia xây dựng luật tại Bộ Tư pháp: Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn vững chắc cùng 7 bảng số liệu chi tiết phục vụ trực tiếp cho việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 2015, đặc biệt là chương quy định về tội phạm môi trường và trách nhiệm hình sự của pháp nhân.
Thứ hai, Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng: Nắm vững thực tiễn áp dụng Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT, nhận diện phương thức thủ đoạn buôn bán động vật hoang dã và các rào cản tố tụng trong thu thập chứng cứ ô nhiễm môi trường.
Thứ ba, cán bộ quản lý môi trường, lực lượng Cảnh sát môi trường và Thanh tra chuyên ngành: Vận dụng các mô hình phối hợp liên vùng, giải pháp giám sát chất thải nguy hại tại các cụm công nghiệp và 1.350 làng nghề ngoại thành.
Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Luật hình sự và Tội phạm học: Luận văn là công trình chuyên khảo mẫu mực về phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận pháp lý với phân tích dữ liệu thực chứng kéo dài trong 6 năm.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao trong giai đoạn 2008 - 2013, Hà Nội chủ yếu chỉ xét xử tội vi phạm bảo vệ động vật hoang dã?
Vì tội danh này (Điều 190 BLHS) đã có Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT quy định cụ thể về danh mục loài, số lượng cá thể và trọng lượng để định tội. Trong khi đó, các tội danh gây ô nhiễm không khí hay nguồn nước chưa có văn bản hướng dẫn định lượng tiêu chí "hậu quả nghiêm trọng".
Khái niệm "gây hậu quả nghiêm trọng" tạo ra trở ngại pháp lý như thế nào?
Cụm từ này mang tính định tính trừu tượng. Việc xác định mức độ suy thoái môi trường, thiệt hại tài sản hoặc tổn hại sức khỏe cộng đồng đòi hỏi quy trình giám định rất phức tạp, chi phí cao và thiếu căn cứ pháp lý rõ ràng, dẫn đến việc cơ quan điều tra không thể khởi tố vụ án.
Quy định "đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm" bộc lộ bất cập gì?
Theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, sau thời hạn 1 năm kể từ ngày chấp hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì đối tượng được coi như chưa bị xử phạt. Kẽ hở này khiến nhiều đối tượng cố tình kéo dài thời gian để thoát trách nhiệm hình sự.
Tại sao pháp nhân chưa thể là chủ thể của tội phạm môi trường trong giai đoạn nghiên cứu?
Bộ luật Hình sự năm 1999 chỉ công nhận cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi là chủ thể của tội phạm. Do đó, các công ty xả thải độc hại hàng triệu mét khối ra sông ngòi chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính bằng tiền mà không thể bị truy cứu hình sự.
Kinh nghiệm quốc tế mang lại giải pháp gì cho việc hoàn thiện luật hình sự Việt Nam?
Pháp luật Liên bang Nga và Singapore đều quy định cấu thành tội phạm hình thức cho hành vi xả thải nguy hại mà không cần chờ hậu quả thực tế xảy ra, đồng thời áp dụng chế tài hình sự nghiêm khắc đối với tổ chức kinh doanh, giúp bảo vệ môi trường từ sớm.
Kết luận
- Công trình đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn xét xử tội phạm môi trường tại Hà Nội trong 6 năm (2008 - 2013) với 127 vụ án và 164 bị cáo.
- Vạch rõ thực trạng mất cân đối nghiêm trọng khi 92,91% số vụ xét xử chỉ tập trung vào tội buôn bán động vật hoang dã, bỏ trống các hành vi gây ô nhiễm công nghiệp.
- Chỉ ra các nút thắt lập pháp then chốt gồm: thiếu hướng dẫn định lượng hậu quả, rào cản tiền sự hành chính và việc chưa hình sự hóa hành vi của pháp nhân thương mại.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp cấp bách về hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, ban hành thông tư liên tịch, trang bị kỹ thuật điều tra và tăng cường kiểm soát môi trường liên vùng.
- Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ trực tiếp cho lộ trình sửa đổi Bộ luật Hình sự và tiến trình cải cách tư pháp bảo vệ môi trường tại Việt Nam.