Đặt vấn đề Độ bền của kết cấu bê tông cốt thép, đặc biệt là các kết cấu làm việc trong môi trường xâm thực như môi trường biển, gây ra lo ngại về tính an toàn, sự toàn vẹn và tính phục vụ của kết cấu. Chi phí cần để sửa chữa và bảo trì các kết cấu bị hư hại do ăn mòn thường cao hơn rất nhiều. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện và cho thấy sự hiệu quả của việc sử dụng các phương pháp số để đánh giá tốc độ ăn mòn cốt thép trong bê tông. Tuy nhiên, các ảnh hưởng về thời gian chưa được xem xét trong nhiều mô hình dự đoán.
Thêm nữa, các ảnh hưởng của các yếu tố, như tỷ số nước trên chất kết dinh, các vật liệu chất kết dính thay thế, các điều kiện môi trường, v. có thể thay đổi. Kết quả là các yếu tố này làm thay đổi lớn đến kết quả tốc độ ăn mòn được dự đoán. Cũng cần chú ý rằng không có nhiều nghiên cứu xem xét các ảnh hưởng của sự phát triển theo thời gian của bê tông, bao gồm sự hydration của xi măng và phản ứng pozzolanic của tro bay, và độ rỗng mao dẫn.
Dựa trên các ý kiến đã nêu trên, mô hình tính toán tốc độ ăn mòn của cốt thép được đề xuất trong nghiên này. Mô hình tính toán được phát triển dựa trên các cấp phối bê tông khác nhau và các loại chất kết dính khác nhau. Mô hình được kiểm chứng với giá trị thực nghiệm trong chính nghiên cứu này và các nghiên cứu đã có trước đó.2 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu này được thực hiện để đánh giá mức độ hư hại do ăn mòn của công trình bê tông cốt thép. Nhằm đạt được mục tiêu chính, các mục tiêu cụ thể cần đạt được là: • Nghiên cứu thực nghiệm đánh giá tốc độ ăn mòn của cốt thép dưới ảnh hưởng của các yếu tố, gồm: cấp phối bê tông; nồng độ chloride; độ dày bê tông; và thời gian tiếp xúc.
• Xây dựng phương trình tính toán tốc độ ăn mòn của cốt thép cho các công trình bê tông cốt thép.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.1 Ý nghĩa khoa học Phương trình tính toán tốc độ ăn mòn của cốt thép trong bê tông có sử dụng phụ gia khoáng là tro bay thay thế xi măng. Có xem xét ảnh hưởng theo thời gian của sự phát triển cấu trúc vi mô của nền bê tông đến sự phát triển của quả trình ăn mòn cốt thép.2 Ý nghĩa thực tiễn Ứng dụng phương trình trong việc thiết kế độ bền cho kết cấu bê tông cốt thép làm việc trong môi trường xâm thực. Qua đó giảm thiểu được một phần chi phí trong việc sửa chữa và bảo trì kết cấu bê tông cốt thép. Trang 2 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2.1 Hiện trạng xâm thực các công trình bê tông cốt thép ở Việt Nam Việt Nam có đường bờ biển dài hơn 3200 km từ 8o37’ đến 21o32’ Bắc.
Sau năm 1960 số lượng các công trình bê tông cốt thép làm việc trong môi trường biển tăng đáng kể. Theo kết quả khảo sát của các cơ quan nghiên cứu trong nước như: Viện Khoa Học Vật Liệu, Viện Khoa Học Thủy Lợi, Trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng, v. thì tình trạng suy giảm tuổi thọ của công trình bê tông cốt thép làm việc trong môi trường vùng biển là đáng để quan tâm. Hiện nay bên cạnh các công trình có tuổi thọ trên 30 – 40 năm thì có nhiều công trình bị ăn mòn và hư hỏng nặng sau 20 – 25 năm sử dụng, thậm chí nhiều kết cấu bị phá hủy nặng nề chỉ sau 10 – 15 năm sử dụng.
Hầu hết các kết cấu này đều tiếp xúc với môi trường không khí và nước biển. Trong suốt thời gian làm việc của kết cấu có sự tương tác qua lại giữa vật liệu và môi trường xung quanh tạo điều kiện cho các tác nhân xâm thực thâm nhập qua lớp bê tông và bị giữ lại trên bề mặt cốt thép. Có thể phân loại mức độ xâm thực tại các vùng như trong Bảng 2. Phân loại môi trường và mức độ xâm thực [1].
Mức độ xâm thực của môi trường đối với kết STT Môi trường cấu Bê tông Bê tông cốt thép 1 Vùng khí quyền gần bờ - Trung bình 2 Vùng ben bờ Nhẹ Mạnh 3 Vùng sát mép nước Trung bình Mạnh Vùng nước lên xuống và sóng 4 Mạnh Rất mạnh đánh 5 Vùng ngập nước biển Mạnh Mạnh Theo điều tra của Viện khí tượng thì nước biển Việt Nam có thành phần hóa học, độ mặn và tính xâm thực tương đương với các vùng biển khác trên thế giới. Riêng vùng gần bờ biển do ảnh hưởng của các sông chảy ra biển nên khác chút ít. Kết quả phân tích như trong Bảng 2. Thành phần hóa học nước biển của Việt Nam và thế giới [1].
Chỉ Đơn Vùng biển Hòn Vùng biển Hải Biển Bắc Biển tiêu vị Gai Phòng Mỹ Bantic pH - 7,8 – 8,4 7,5 – 8,3 7,5 8,0 Trang 3 Cl- g/l 6,5 – 18,0 9,0 – 18,0 18,0 19,0 Na+ g/l - - 12,0 10,5 SO42- g/l 1,4 – 2,5 0,002 – 2,2 2,6 2,6 Mg2+ g/l 0,2 – 1,2 0,002 – 1,1 1,4 1,3 Cùng với tác động hóa học làm biến đổi thành phần của vật liệu thì kết cấu bê tông và bê tông cốt thép còn bị bào mòn do áp lực sóng, đặc biệt là sóng có cường độ mạnh do gió bão gây ra. Trên bề mặt kết cấu, quá trình khô ướt xảy ra thường xuyên làm tăng nhanh quá trình tích tụ ion Cl-, O2-. Khi tiến hành kiểm tra đánh giá khả năng chịu lực của một số công trình thì thấy tại các vết nứt cốt thép bị gỉ rất nặng, tiết diện cốt thép giảm 40 – 60%, cốt thép đai nằm bên ngoại bị gỉ nặng hơn và đứt nhiều hơn. Tiến hành đo điện thế ăn mòn bằng máy đo điện thế CANIN của một số công trình bê tông cốt thép làm việc trong môi trường biển và đánh giá dựa vào tiêu chuẩn ASTM C 876 [2] và giản đồ Pourbaix.
Các kết quả khảo sát tại bốn công trình tiêu biểu tại Đà Nẵng bao gồm: Cầu Nguyễn Văn Trỗi, Cảng cá Thuận Phước, Cảng Liên Chiểu và Cảng Tiên Sa cho thấy cả bốn công trình đều trong tình trạng ăn mòn rất nặng. Kết quả được trình bày trong Bảng 2. Kết quả đo điện thế ăn mòn và mức độ ăn mòn tại các công trình [1]. Điện thế so với điện thế Khả năng ăn mòn Phương pháp Công trình Ag/AgCl cốt thép đánh giá Cảng Tiên Sa -436 đến -516 ≥95% ASTM C876 Cảng Thuận -409 đến -450 ≥90% ASTM C876 Phước Cảng Liên Chiểu -320 đến -460 ≥90% ASTM C876 Cảng Nguyễn Giản đồ E-pH hệ -306 đến -325 ≥90% Văn Trỗi Fe-H2O 2.2 Tình hình nghiên cứu Alonso và các đồng sự [3] đã nghiên cứu mối liên hệ giữa điện trở suất và tốc độ ăn mòn của cốt thép trong vữa xi măng.
Các mẫu thực nghiệm được chuẩn bị với tỉ lệ nước trên xi măng (N/X) là 0. Các loại xi măng sử dụng trong nghiên cứu gồm: xi măng thường – Ordinary Portland Cement (OPC); xi măng bền sulfate – Sulfate Resistance Portland Cement (SRPC); xi măng xỉ - Slag Cement (SC); xi măng pozzolanic – Pozzolanic Cement (Pozz C); xi măng tro bay – Fly Ash Cement (FAC); và xi măng thường phối trộn 30% tro bay (OPC + 30% FA). Sau quá trình dưỡng hộ 28 ngày, các mẫu sẽ được đưa vào thùng thúc đẩy ăn mòn Trang 4 thông qua quá trình carbonation. Sau quá trình carbonation, các mẫu sẽ được lần lượt đặt trong các môi trường thay đổi với độ ẩm thay đổi, gồm: 100% RH; 50% RH; và ngâm một phần trong nước (khoảng 70% RH).
Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị hiệu điện thể ăn mòn của các mẫu thực nghiệm giảm, vào khoảng từ -400 đến -600 mV sau quá trình carbonation, như thể hiện trong Hình 2. Hơn nữa, quá trình các mẫu tiếp xúc với các môi trường có độ ẩm khác nhau cho thấy điện thể ăn mòn giảm khi tăng độ ẩm của môi trường. Cụ thể, nhóm mẫu đặt trong điều kiện ngâm một phần trong nước cho kết quả nhỏ nhất (khoảng từ -600 đến -700 mV). Giá trị điện thế lớn nhất được ghi nhận trong nhóm mẫu đặt trong môi trường có độ ẩm 50%.
Điện thế ăn mòn theo thời gian [3]. Đồng thời, mật độ dòng ăn mòn được ghi nhận nhỏ nhất vào khoang thời gian dưỡng hộ mẫu, như thể hiện trong Hình 2. Sau quá trình carbonation, mật độ dòng tăng lên khoảng 2 µA/cm2 vào cuối quá trình carbonation. Sau khi tiếp xúc với các môi trường có độ ẩm khác nhau, kết quả chỉ ra mối liên hệ tỉ lệ thuận giữa mật độ dòng ăn mòn và độ ẩm của môi trường.
Trang 5 Mật độ dòng ăn mòn khá cao (khoảng 3 – 10 µA/cm2) trong điều kiện mẫu được ngâm một phần trong nước. Tuy nhiên, giá trị mật độ dòng ăn mòn lại rất thấp trong trường hợp mẫu đặt trong môi trường có độ ẩm 50%. Mật độ dòng ăn mòn của cốt thép theo thời gian [3]. Osterminski và các đồng sự [4, 5] nghiên cứu ảnh hưởng của loại xi măng, tỉ lệ N/X và độ ẩm môi trường đến điện trở suất của bê tông.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự thay đổi của môi trường có ảnh hưởng đến điện trở suất, và mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào khả năng bê tông hấp thụ và giải phóng nước trong khoảng thời gian thay đổi giữa mùa mưa và mùa khô. Về khía cạnh này, loại xi măng và tỉ lệ N/X được ghi nhận là hai thông số có ảnh hưởng lớn nhất. Giảm tỉ lệ N/X gây ra sự giảm độ nhạy của sự luân chuyển độ ẩm, trong khi đó độ nhạy được ghi nhận rõ ràng hơn khi sử dụng xi măng loại 3. Xi măng xỉ (xi măng loại 3) cho thấy khả năng cải thiện điện trở suất của bê tông.
Trong quá trình nghiên cứu, kết quả đo đạc cho thấy sự phát triển liên tục của điện trở suất, đó là kết quả của quá trình hydration của xi măng xỉ diễn ra trong một thời gian dài. Mặt khác, Trang 6 quá trình hydration của xi măng loại 1 diễn ra trong thời gian ngắn hơn, và do đó giá trị điện trở không cho thấy sự cải thiện đáng kể. Bê tông có tỉ lệ N/X 0.45 cho thấy sự phát triển đều của điện trở suất ở cả hai loại xi măng sử dụng trong nghiên cứu. Điện trở suất của bê tông ở các điều kiện tiếp xúc khác nhau.
Ghods và các đồng sự [6] đã phát triển mô hình dựa đoán tốc độ ăn mòn của cốt thép bị ăn mòn đều.