HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH KỶ YẾU. DE TAI KHOA HOC CfiP BỘ 2002-2005 THONG TIN KHOA HOG VOl VIỆC TỔ CHỨC THUC HIEN NGHI QUYET CUA DANG HIỆN NAY Cơ quan chủ trì: VIEN THONG TIN KHOA HOC Chủ nhiệm để tài: TS. HOANG NGOC KIM Thu ky dé tai: THS. CAO DUY TIẾN HÀ NỘI 2003 /,/20 AF S]O4 DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN œ ~i Œœ Ơ Bb wn — `© 10.TS Trương Minh Dục.
1§ Nguyễn Thị Ngọc Dung .TS Hoding Ngoc Hod. TS Lương Xuôn Khai CN Vũ Ngọc Lên. PGS,TS NGuyễn Chí Mỳ. T§ Đặng Lễ Nghỉ.
PGS,TS Đỗ Ngọc Ninh. TS Trần Thanh Phường PGS,TS Trần Xuân Sầm TS Đường Vinh Sường TS Lé Thi Hodi Thanh PGS.TS Mach Quang Thdéng PGS,TS Nguyễn Thế Thắng TS Lê Hanh Thông TS Phạm Hữu Tiến NCS Lé Van Toan. GS,TS Lợi Văn Toờn tod ‘AV 9. mae Lue PGS, TS Đỗ Ngọc Ninh.
Về tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng trong giai đoạn hiện nay và yêu cầu đối với hoạt động thông tin khoa học PGS,TS Mạch Quang Thắng. Nhu cầu thông tin khoa học trong quá trình thực hiện Nghị quyết của Đảng TS Nguyễn Thị Ngọc Dung. Vấn đề tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng trong giai đoạn hiện nay TS Hoàng Ngọc Kim. Quá trình thực hiện Nghị quyết của Đảng - Nhìn dưới góc độ thông tin học PGS,TS Trần Xuân Sầm.
Mối quan hệ giữa hoạt động thông tin khoa học và quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng những năm qua TS Đặng Lễ Nghỉ. Mối quan hệ giữa Thông tin khoa học với việc tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng GS,TS Lai Văn Toàn. Thông tin khoa học xã hội với việc tuyên truyền Nghị quyết của Đảng PGS,TS Nguyễn Chí Mỳ. thông tin khoa học trong việc đưa nghị quyết vào cuộc sống (Qua thực tiễn Hà Nội) PGS,TS Trương Minh Dục.
Vai trò của thông tin khoa học trong tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Đảng (Qua thực tiễn khu vực miễn Trung-Tây Nguyên) TS Lê Hanh Thông. Những yêu cầu đối với hoạt động thong tin khoa học trong tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng (Qua thực tiễn của Thành phố Hồ Chí Minh) 22 36 49 63 72 81 89 104 ll. GS,TS Hoàng Ngọc Hoà. Phát huy vai trò của thông tin khoa học trông công tác tổ chức nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Đảng TS Lương Xuân Khai.
Hoạt động thông tin khoa học với công tác kiểm tra nhằm phục vụ việc tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng TS Trân Thanh Phương. Về cơ chế hoạt động thông tin khoa học hiện nay. Những giải pháp nhằm đáp ứng việc phục vụ quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng TS Đường Vinh Sường. Cơ chế hoạt động thông tin khoa học hiện nay- những giải pháp mhằm đáp ứng việc phục vụ quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng.
TS Lé Thị Hoài Thanh. Về công tác thông tin tuyên truyền Nghị quyết của Đảng trên các tạp chí lý luận chính trị Thư mục một số tài liệu tham khảo 113 125 140 159 171 179 VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT CỦA DANG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY VÀ YÊU CẤU ĐỐI VỚI HOAT DONG THONG TIN KHOA HỌC TS ĐỖ NGOC NINH’ Đảng ra đời, tồn tại, phát triển là để lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dan lao déng lật đổ chế độ áp bức, bóc lột xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân. Để hoàn thành nhiệm vụ trọng đại đó Đảng phải để ra các nghị quyết và lãnh đạo tổ chức thực hiện, biến Nghị quyết của Đảng thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội. Không tổ chức thực hiện nghị quyết hoặc tổ chức thực hiện nghị quyết không tốt thì Nghị quyết của Dang đù hay, đúng dan cũng không thành hiện thực.
Theo lời đạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nếu không thực hiện tốt điều đó, thì nghị quyết của Đảng "sẽ hoá ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng". Tổ chức thực hiện Nghị quyết có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng. Song, thông tin lại có vai trò rất quan trọng đối với việc tổ chức thực hiện nghị quyết, nhất là trong điều kiện "bùng nổ thông tin" hiện nay. Có thể nói rằng, không thể tổ chức thực hiện tốt nghị quyết của Đảng nếu không nắm bắt và xử lý tốt các thông tin liên quan trong quá trình ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết.
Trên thực tế, đã có không ít nghị quyết đúng đấn của Đảng không được thực hiện đến nơi đến chốn, kết quả thấp. Điều đó không hoàn toàn do ý thức tổ chức thực hiện nghị quyết của các cấp uỷ đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa cao mà phần rất lớn lại do họ chưa nắm được những vấn đề lý luận chủ yếu về tổ chức thực hiện nghị quyết và năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết * TS Dé Ngọc Ninh. Phó Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng - Học viện Chính trị Quốc gia - Hồ Chí Minh k ! Hồ Chí Minh. Tập 5,Nxb CTQG, H.
249-150 5 của họ còn nhiều hạn chế, trong đó phải kể đến những yếu kém về cung cấp thông tin, nấm bắt và xử lý thông tin khoa học. Để góp phần tạo nên sự chuyển biến trong tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng giai đoạn hiện nay cần nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan. Trong đó, vấn đề rất quan trọng là làm sáng tỏ những vấn đẻ lý luận chủ yếu về tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng; những vấn đề thực tiễn đặt ra, và vai trò, yêu cầu hoạt động thông tin khoa học góp phần tổ chức thực hiện tốt nghị quyết của Đảng. VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT CỦA DANG * Khái niệm "nghị quyết, tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng" Trước hết, cần làm rõ khái niệm "Nghị quyết".
Nghị quyết gắn liền với một tổ chức nhất định: nghị quyết của Đảng; nghị quyết của Nhà nước; nghị quyết của các đoàn thể nhân dân; nghị quyết-của các tổ chức xã hội, nghề nghiệp. Trong phạm vi chuyên đề này chỉ bàn đến nghị quyết của Đảng. Nghị quyết của Đảng gồm nhiều loại: nghị quyết của tổ chức đảng ở cơ. sở, địa phương, ngành, cơ quan, đơn vị gồm: nghị quyết của chỉ bộ, của đảng bộ; nghị quyết của đảng uỷ, của ban thường vụ đảng uỷ.
Những Nghị quyết này thường được gắn với tên chi bộ, đảng bộ, với thứ tự từng cuộc họp đề ra nghị quyết, gắn với vấn để nghị quyết đó giải quyết và với nhiệm kỳ cấp uỷ. Ví dụ, nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, khoá XII tỉnh uỷ tỉnh A về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng, của Bộ Chính trị. Những Nghị quyết này được gắn với thứ tự các cuộc họp Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, gắn với vấn đề giải quyết và nhiệm kỳ đại hội.
Ví dụ: Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) vé một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Có Nghị quyết đại hội toàn thể đảng viên, có nghị quyết đại hội đại biểu của đẳng bộ, của toàn thể đảng bộ. Có Nghị quyết giải quyết nhiều vấn dé trong một thời gian nhất định, ở một địa phương nhất định. Song, cũng có nghị quyết chỉ giải quyết một vấn đề như: kết nạp đảng viên, kỷ luật đảng viên và tổ chức đảng, đưa người không đủ tư cách ra khỏi Đảng.
Tất cả các Nghị quyết của các tổ chức đảng hay của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đều là quyết định tập thể của tổ chức đảng đó, được thông qua trên cơ sở thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Tất cả các nghị quyết của tổ chức đảng được thông qua phải đảm bảo quá nửa ý kiến của các thành viên của tổ chức đảng đó tán thành. Tuy nhiên, tuỳ theo từng loại nghị quyết và vấn đề phải giải quyết, Đảng đã qui định cụ thể tỷ lệ số ý kiến tán thành nghị quyết tối thiểu để nghị quyết được thông qua. Ví dụ: nghị quyết về khai trừ đảng viên ra khỏi Đảng và giải tán một tổ chức đẳng phải được quá ' 2/3 số thành viên của tổ chức đảng có thẩm quyền tán thành.
Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, nghị quyết các kỳ họp Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, có giá trị trong toàn Đảng và toàn quốc. Nghị quyết của cấp uỷ địa phương, ngành. có giá trị trong địa phương, ngành đó. Song, cũng có nghị quyết tuy là của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị giải quyết một hoặc nhiều vấn để ở một ngành, một địa phương thì có giá trị trong ngành, địa phương đó.
Ví dụ: Nghị quyết của Bộ Chính trị về Thủ đô Hà Nội, hoặc về thành phố Hồ Chí Minh. Từ những điều trình bày ở trên có thể nói rằng, Nghị quyết của Đảng là quyết nghị được bàn bạc, thảo luận một cách dân chủ trong tổ chức đảng có thẩm quyên ra nghị quyết và được đa số thành viên tán thành. Đó là những quyết nghị về giải quyết một hay nhiều vấn đề trong hoạt động xây dựng nội bộ Đảng và hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với đời sống xã hội, đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị. có giá trị trong không gian và thời gian nhất định và không trái với đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà Hước.
Khái niệm '! chức thực hiện Nghị quyết của Dang" Theo đại từ điển tiếng Việt, "Tổ chức" có hai nghĩa chính. Nghĩa thứ nhất (là động từ): "Tổ chức" là sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung; sắp xếp, bố trí để làm 7 cho có trật tự, nền nếp; tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự nào đó. Nghĩa thứ hai (là danh từ): "Tổ chức" là tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất định, để hoạt động vì lợi ích chung; tổ chức chính trị, xã hội với cơ cấu và kỷ luật chặt chế”. Trong chuyên đề này, khái niệm "tổ chức" được dùng theo nghĩa thứ.
nhất, tức là tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự nào đó. Tuy nhiên, định nghĩa đó là những điều chung nhất, và còn nặng nói về cách thức hành động.