Chương 1: Sản phẩm và dịch vụ thông tin trong hoạt động của cơ quan thông tin bộ/ngành Chương 2: Thực trạng các sản phâm và dịch vụ thông tin Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện và phat triển hệ thống sản phẩm, dịch vụ thông tin tai b6/nganh. CHUONG I SAN PHAM VA DICH VU THONG TIN 10 TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN THÔNG TIN BỘ/NGÀNH 1. Một số khái niệm liên quan 1. Thông tin KH&CN Trong cuộc sống hàng ngày, ở đâu và lúc nào chúng ta cũng nghe nói đến hai từ “thông tin”, chang hạn thông tin là nguồn lực của sự phát triển, thông tin hỗ trợ việc hoạch định chính sách, thời đại ngày nay là thời đại của thông tin,.
Vậy thông tin là gì? Có rất nhiều cách hiểu về thông tin. Ví dụ, trong Bách khoa toàn thư của Liên X6 xuất bản lần thứ 3, tập 10 viết “Thông tin là tin tức được truyền đi bởi con người băng lời nói, chữ viết hoặc các phương tiện khác”. Theo từ điển Oxford của Anh, thông tin là “điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến là tri thức, tin tức”. Nhiều từ điển khác đồng nhất thông tin với kiến thức “thông tin là điều mà người ta biết” hoặc “thông tin là sự chuyền giao tri thức làm tăng thêm hiểu biết của con người”.
Thông tin theo gốc tiếng Latin “informatio” có hai nghĩa. Một là, nó chỉ một hành động rất cụ thê tạo ra một hình dạng (forme). Hai là, tùy theo tình huống, nó có nghĩa là truyền đạt một ý tưởng, một khái nệm hay một biểu tượng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo.
Trong lý thuyết thông tin của C.Shannon, thông tin là số đo độ bat định (càng tăng hiểu biết về một sự vật, hiện tượng nào đó chúng ta càng làm giảm độ chưa biết hoặc độ không chắc chắn của nó). Căn cứ vào đặc điểm, nội dung của tin tức, có thé chia thông tin thành các loại thông tin kinh tế, thông tin quản lý, thông tin KH&CN,. Mỗi loại thông tin đều có đặc trưng riêng, song nhìn chung chúng đều đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển xã hội. Trong tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5453-1991 nêu: “Thông tin là nội dung con người gán cho đữ liệu với các qui ước (ký hiệu) đã biết, được sử dụng trong việc trình bày chúng”.
Trong phạm vi luận văn này, khái niệm thông tin KH&CN được hiểu theo định nghĩa tại Khoản 1, điều 2 Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004 quy định về hoạt động thông tin KH&CN, theo đó: “Thông tin KH&CN là các dit liệu, s6 liệu, dữ kiện, tri thức KH&CN (bao gom khoa hoc tự nhiên, KH&CN, khoa hoc xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhăm mục đích cung cáp II dich vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cẩu của tổ chức, cá nhân trong xã hoi”. Như vậy, thông tin KH&CN không chỉ bó hẹp trong phạm vi thông tin về khoa học tự nhiên, KH&CN mà còn bao gồm cả thông tin trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Người dùng tin và nhu cau tin Dé có căn cứ cho việc tổ chức hoạt động thông tin nói chung và hướng tới hoàn thiện SP&DVTT tại cơ quan thông tin bộ/ngành, cần phải nghiên cứu đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin. Đặc điểm định hướng nhu cầu thông tin KH&CN trong giai đoạn hội nhập quốc tế được đặc trưng bằng: - Tính định hướng vĩ mô được xác định băng các định hướng chiến lược, chính sách và kế hoạch dài hạn, trung hạn phát triển KT-XH nói chung và phát triển KH&CN nói riêng.
Điều này định hướng tới việc phát triển tiềm lực thông tin KH&CN của đất nước, với yêu cầu nội dung thông tin cơ bản cần thu thập, xử lý và tô chức đáp ứng phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước, tránh được sự dàn trải, manh mún, lệch trọng tâm. - Tính tông hợp, đa ngành và liên ngành được quy định bởi nhu cầu gan kết ngày một tăng giữa KH&CN với kinh tế. Đặc điểm này đòi hỏi bên cạnh việc tăng cường năng lực tự đảm bảo thông tin của các cơ sở KH&CN (các viện, trường, các doanh nghiệp), phát triển CSDL phân tán, cần phải tập trung xây dựng một cách tập trung các cơ quan thông tin có chức năng đáp ứng các nhu cầu tin liên ngành, đa ngành và tổng hợp cho mọi đối tượng trong cả nước. Trên thực tế, ngoài nhu cầu thường xuyên năm bắt kịp thời và đầy đủ thông tin chuyên ngành, một chuyên gia ngành hẹp phải nắm bắt được những thông tin có tính tổng hợp và liên ngành và phải tính tới các tác động về xã hội, văn hóa và phát triển bền vững.
- Sự bùng nỗ về nhu cầu thông tin chỉ dẫn và định hướng. Khả năng truy nhập tới các nguồn tin càng được mở rộng càng đòi hỏi phải có các công cụ và biện pháp đáp ứng nhu cầu tin một cách hiệu quả nhất: nhanh, chính xác, tin cậy, đầy đủ và kinh tế nhất. - Xu thế toàn cầu hóa đòi hỏi nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu tin. Dé sản phẩm, hàng hóa đứng vững được trên thị trường đã toàn cầu hóa, thông tin đầu 12 vào cho các sản phẩm, hàng hóa đó cũng phải được đảm bảo ở trình độ quốc tế.
Việc sử dụng rộng rãi Internet sẽ thúc day phát triển nhu cầu thông tin, tạo thêm tiền đề hình thành thị trường thông tin ở nước ta và dẫn đến sự chấp nhận thông tin như một loại hàng hóa thực sự. Từ bối cảnh trên, ta xem đặc điểm của nhu cầu thông tin chung về KH&CN ở các bộ/ngành. Từ đặc điểm nhu cầu tin trong xã hội, người ta chia người dùng tin thành 5 nhóm cơ bản, với đặc điểm nhu cầu thông tin của từng nhóm như sau: Nhom 1. Người dùng tin la nhà lãnh đạo, quan ly Lãnh dao va quản ly là một dang lao động đặc biệt của con người.
Quan lý là quá trình chuẩn bị và thông qua quyết định trong những tình huống xác định hay giải quyết các van đề trên cơ sở thông tin thu nhận được. Hiệu quả của quá trình quản lý tùy thuộc vào chất lượng của các quyết định. Quyết định có chất lượng là quyết định có luận cứ khoa học, đáp ứng kịp thời và thể hiện được sự am hiểu, thông thạo van đề được xác định bởi sự đầy đủ, tính chính xác va kip thời của thông tin, của số liệu và tư liệu có được. Như vậy, thông tin là yếu tố quan trọng trong quá trình chuẩn bị quyết định và thông tin chính là đối tượng lao động của người quản lý.
Người dùng tin nhóm này là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp hành chính (lãnh đạo các Bộ/ngành, lãnh đạo các Vụ/Cục/ Ban. Nội dung bao quát chủ đề thông tin cho nhóm người dùng tin này có diện rộng, khái quát trên nhiều lĩnh vực, các vấn đề có liên quan đến khoa học lãnh đạo, quản lý, các phương hướng phát triển của đất nước. Quỹ thời gian của người dùng tin nhóm nay tắt ít, vì vậy, thông tin dành cho họ cần phải nhanh, kip thời va bảo đảm độ tin cậy, có độ khái quát va có kết cao. Nhu vậy, những người làm công tác cung cấp thông tin phục vụ lãnh đạo phải hiểu biết rộng, nam vững các nguồn tin và thành thạo trong việc ra cứu tìm tin.
Phương pháp phục vụ cho người dùng tin ở đây thường là cung cấp đến từng cá nhân các thư mục tổng hợp và ấn phẩm thông tin chọn lọc, các bản tin nhanh được xử lý tổng hợp. Người dùng tin là các nhà doanh nghiệp - Đối tượng: cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, tác nghiệp của các doanh nghiệp; cán bộ phát triển công nghệ, lập dự án công nghệ công nghiệp, các nhà tư vân, môi giới công nghệ. Thông tin cân phục vụ: 13 + Thông tin về hành lang pháp lý; + Thông tin thị trường (trong nước và thé giới); + Thông tin về công nghệ, thiết bị, sản pham mới; + Thông tin về doanh nghiệp, đối tác; + Kinh nghiệm quản lý, chuyển giao công nghệ. Người dùng tin la can bộ KH&CN Gồm những cán bộ nghiên cứu, những người tham gia thực hiện các dé tài/đề án nghiên cứu ở các cấp.
Day là các cán bộ khoa học và chuyên môn có học vấn cao, quan tâm đến những tài liệu chuyên sâu thực sự có giá trị khoa học. Ngoài những thông tin mới, cập nhật, họ cần cả những tài liệu hồi có. Mức độ hồi cố xa hay gần tùy thuộc vào lĩnh vực ngành khoa học mà họ nghiên cứu. Người dùng tin nhóm này năm vững các nguồn tài liệu của ngành mình, biết cách sử dụng và khai thác tải liệu tại các cơ quan thông tin, thông thạo trong việc sử dụng cách tra cứu tìm tài liệu trực tuyến qua các CSDL, các nguồn tin điện tử trên máy tính.
Thời gian họ dành cho việc nghiên cứu tài liệu khá nhiều (các nghiên cứu cho thấy họ có thể dành từ 20 đến 50% quỹ thời gian nghiên cứu đề tìm tin trong các cơ quan thông tin), do vậy nhu cầu tin của họ là nhu cầu tin tư liệu, cần được cung cấp tài liệu gốc. Vì có kinh nghiệm trong việc sử dụng thông tin nên người dùng tin nhóm này biết cách trình bày chính xác các nhu cầu và yêu cầu về tài liệu của mình. Nhóm 4: Người dùng tin là các học viên tại các cơ sở đào tạo (học viện, trường đại học, cao dang, .) Đây cũng là lượng người dùng tin đông đảo cần thông tin và tư liệu phục vụ cho việc học tập và làm luận văn tốt nghiệp. Thông tin mà họ cần thường là những kiến thức khái quát về các ngành khoa học, cả những tài liệu mới và tài liệu hồi cố.
Do chưa thật quen với việc sử dụng các nên họ thường bỡ ngỡ trong việc tìm kiếm và khai thác thông tin. Vì vậy, cán bộ thông tin cần chú ý hướng dẫn họ về các loại nguồn lực thông tin, phương pháp sử dụng các tư liệu tra cứu và phương pháp tìm tin trên máy. Nguoi dùng tin đại chúng Đối tượng người dùng tin này là bộ phận trong cộng đồng dân cư cần thông tin về: 14 - Thông tin về luật pháp, chế độ, chính sách (các văn bản QPPL, chính sách của Đảng, Nhà nước,. ); - Thông tin ở mức độ chung, phô thông về các lĩnh vực KT-XH, y tế, giáo dục, văn hóa.
Những đánh giá về người dùng tin được thê hiện ở nội dung của thông tin được cung cấp, vốn thường thay đổi theo ban chất công việc và nhiệm vụ mà người dùng tin phải hoàn thành.