phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương: Chƣơng 1: Tổng quan về thị trường thép thế giới và kinh nghiệm của một số nước trong phát triển ngành thép; Chƣơng 2: Thực trạng của ngành thép Việt Nam và những vấn đề đang đặt ra; Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp phát triển ngành thép Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2006 – 2010 và đến năm 2020. z 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƢỜNG THÉP THẾ GIỚI VÀ KINH NGHIỆM C Ủ A M ỘT SỐ N Ƣ ỚC T R ON G P HÁ T T R I Ể N N GÀ N H T HÉ P 1.1 - NGÀNH THÉP THẾ GIỚI: LỊCH SỬ, HIỆN TẠI VÀ XU HƢỚNG PHÁT TRIỂN Sản lượng thép thế giới trong năm 2005 đã đạt mức cao nhất trong lịch sử, khoảng 1.131 triệu tấn, tăng 6,1% so với năm 2004. Trong khi đó, tiêu thụ thép thành phẩm trên thế giới đạt gần 935 triệu tấn, tăng 6,4% so với năm 2004. Tuy nhiên, giá thép đột ngột tăng trở lại vào thời điểm quý đầu năm 2006.
Thị trường Trung Quốc: Sản lượng thép năm 2005 của Trung Quốc đạt 315 triệu tấn, tăng 3,9% so với năm 2004. Đồng thời, nhập khẩu thép ước khoảng 37 triệu tấn, tăng 50% so với năm 2004. Chính vì vậy, Trung Quốc đang trở thành trung tâm hút các sản phẩm thép, và đây được xem là nguyên nhân chủ yếu đẩy giá thép tăng mạnh trong thời gian qua. Để thích nghi với tình hình trong nước và quốc tế, những năm gần đây Trung Quốc đã áp dụng một số chính sách điều tiết thị trường thép, đáng lưu ý như: + Ngày 20/11/2002, chính thức sửa đổi hệ thống hạn ngạch nhập khẩu.
+ Quyết định áp dụng thuế chống phá giá đối với các sản phẩm thép cán nguội. + Tuyên bố bãi bỏ chế độ bảo hộ trả đũa đối với mặt hàng thép nhập khẩu (quyết định này được đưa ra ngày 04/12/2003). Ngay sau khi quyết định này của Trung Quốc có hiệu lực, trên thị trường giao dịch thép thế giới đã xuất hiện một số diễn biến mới, nổi bật là việc Hoa Kỳ quyết định xóa bỏ việc áp dụng thuế nhập khẩu thép trên 30% (vào ngày 26/12/2003), sau khi có phán quyết của WTO. Nguyên nhân chủ yếu làm tăng giá thép trên thị trường thế giới từ cuối năm 2003 đến nay là do tác động của nhiều yếu tố: z 7 Thứ nhất, nhu cầu thép trên thị trường thế giới tăng mạnh trong các năm 2004-2005, đặc biệt là tại một số thị trường lớn như Trung Quốc và Mỹ.
Trong đó nhu cầu thép của Trung Quốc tăng mạnh được giải thích do thực hiện các dự án xây dựng chuẩn bị cho Thế vận hội 2008; sự mở rộng của ngành công nghiệp ô tô; thêm vào đó, việc Trung Quốc xoá bỏ bảo hộ trả đũa đối với thép nhập khẩu càng kích thích nhập khẩu của Trung Quốc tăng mạnh. Việc Mỹ thi hành chính sách đồng USD rẻ đã kích thích tiêu dùng trong nước và gia tăng đầu tư vào xuất khẩu. Do đó, khi Mỹ bỏ thuế nhập khẩu thép sau phán quyết của WTO, nhu cầu thép ở nước này lên cao, góp phần tạo ra sự thiếu hụt trên thị trường thế giới. Thứ hai, nguồn cung ứng nguyên liệu thô như quặng sắt, thép phế và than cốc trở lên khan hiếm, khiến chi phí sản xuất tăng, buộc các nhà máy thép phải tăng giá bán để bù đắp chi phí đầu vào tăng cao.
Thứ ba, giá cước vận chuyển vẫn ở mức cao, hơn nữa việc thuê tàu ngày càng khó khăn do biến động của giá dầu trên thị trường thế giới. Thứ tư, tỷ giá trao đổi giữa đồng Dollar Mỹ và đồng Euro cũng góp phần làm tăng giá bán. Sản lượng sản xuất thép thô trong tháng 6/2006 của toàn thế giới đã đạt 103,8 triệu tấn, tăng cao hơn so với cùng kỳ của năm 2005 là 12,7%. Tổng cộng 6 tháng đầu năm 2006 sản lượng sản xuất trên thế giới đã đạt 595,7 triệu tấn, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2005.
Trung Quốc vẫn là quốc gia sản xuất thép lớn nhất với sản lượng đạt 36,6 triệu tấn thép thô trong tháng 6/2006, tăng 18,5% so với cùng thời gian của năm 2005. Tổng cộng 6 tháng đầu năm 2006, Trung Quốc đã sản xuất đạt 199,5 triệu tấn thép cán các loại, vượt 18,3% so với cùng kỳ năm 2005. Lượng sản xuất thép thô của Trung Quốc 6 tháng đầu năm 2006 chiếm 33,5% tổng sản lượng sản xuất trên toàn thế giới. Nhật Bản sản xuất đạt 9,7 triệu tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng sản lượng sản xuất thép thô của EU trong tháng 6/2006 đã đạt 17,1 triệu tấn, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm của 2005. Các quốc gia sản xuất chính của EU bao gồm Đức sản xuất đạt 4 triệu tấn (+8,9% so với tháng 6/2005), Italia sản xuất đạt 2,7 triệu tấn (+8,2%) và Pháp sản xuất đạt 1,8 triệu tấn z 8 (+11,4%). Tính toàn khối EU, 6 tháng đầu năm 2006 đã sản xuất đạt 100,7 triệu tấn, tăng 4% so với cùng kỳ của năm 2005. Các quốc gia còn lại, trong 6 tháng đầu năm 2006 đã sản xuất đạt 58,7 triệu tấn, tăng 3,8% so với cùng thời gian năm 2005.
Trong tháng 6/2006, Nga sản xuất đạt 5,8 triệu tấn, tăng 13,5% so với cùng thời gian năm 2005. Ukraine sản xuất đạt 3,5 triệu tấn, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2005. Riêng Braxin trong tháng 6/2006 đã sản xuất đạt 2,4 triệu tấn, giảm 4,4% so với cùng kỳ năm 2005.1 : Sản lƣợng tiêu thụ 6 tháng đầu năm 2006 của 62 Quốc gia sản xuất thép hàng đầu thế giới Đơn vị tính: 1.000 tấn (TriÖu tÊn) 104,979 103,800 105,000 100,626 99,860 100,000 95,261 95,000 90,986 90,000 85,000 80,000 Th¸ng 1 Th¸ng 2 Th¸ng 3 Th¸ng 4 Th¸ng 5 Th¸ng 6 (6 th¸ng ®Çu n¨m 2006) Nguồn: Viện Nghiên cứu sắt thép quốc tế -www.com/steel in figure June 2006 1.1 - Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển của ngành thép z 9 Thép là gì? Trả lời cho câu hỏi này chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách tìm hiểu những khái niệm cơ bản nhất các thành phần hoá học cấu tạo ra thép: Thép là một dạng hợp kim kết hợp giữa sắt và các bon, thành phần chủ yếu bao gồm các bon dưới 2%, Mănggan 1%, và một phần các hợp chất khác như Silíc, Phốt pho, Sun phua, và Ôxy. Thép đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong các ngành cơ khí và vật liệu xây dựng trên thế giới.
Ngoài ra, thép còn đóng một vai trò hiện hữu trong đời sống hàng ngày của chúng ta và ở trong các ngành như: Sản xuất ô tô, vật liệu xây dựng, đóng tàu, vỏ thùng máy giặt, tủ lạnh. và rất nhiều các ứng dụng khác. Ai phát minh ra thép? Người đầu tiên trên thế giới gốc Anh có tên là Henrry Bessemer đã phát minh và sáng chế ra thép vào năm 1856. Ngay từ khi phát minh ra thép, ông đã đặt tên cho công ty của mình là Bessemer steel company và công ty này được đặt trụ sở tại Sheffield nước Anh.
Trong giai đoạn khởi nghiệp vào năm 1859, công ty này bị ngập chìm trong thua lỗ. Không nản lòng trước những khó khăn và bằng tất cả nhiệt huyết của mình, Henrry Bessemer tiếp tục nghiên cứu và tìm tòi các công thức sản xuất thép, và cho đến tận năm 1870 ông mới được công nhận và có được tấm bằng phát minh sáng chế. Cùng thời gian này, Henrry Bessemer cũng kiếm được hơn một triệu Bảng Anh. Được tiếp thêm luồng sinh khí mới từ tấm bằng sáng chế được cấp, Henrry Bessemer tiếp tục nghiên cứu công thức sản xuất ra thép dựa trên các công nghệ sản xuất cơ bản nhất đó là nấu chảy gang làm ôxy hoá các nguyên liệu và phân loại các tạp chất.
Sản xuất thép như thế nào? Thép được sản xuất từ hai loại nguyên liệu chính: từ sắt thép phế thải, hoặc là từ quặng sắt kết hợp với than cốc. Người ta thường dùng hai phương pháp để nấu chảy - đó là sử dụng lò cao và lò điện. Hiện nay, trên thế giới có tới 60% sản lượng thép được sản xuất bằng phương pháp sử dụng lò điện, công nghệ này thường dễ dàng và nhanh hơn nếu sử dụng nguyên liệu là sắt phế. Người ta tái chế thép bằng cách nấu chảy thép phế qua lò nung sử dụng điện kết hợp với một số thành phần hoá học khác để sản xuất thành phôi thép (Steel billet).
z 10 Phôi thép là nguyên liệu cơ bản nhất để sản xuất ra các loại thép thành phẩm như: thép tấm, thép lá, thép lá cuộn, thép hình, thép cuộn và các chủng loại thép tròn cây sử dụng làm cốt bê tông. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu sắt thép thế giới IISI, trên thế giới có hơn 63 quốc gia sản xuất thép. Sản lượng thép toàn thế giới trong năm 2005 xấp xỉ 1.132 triệu tấn, và số lượng lao động trong ngành thép thế giới vào khoảng 976 ngàn người.2 - Điểm qua tình hình tăng trưởng sản xuất và tiêu thụ thép trên thế giới những năm gần đây Viện Nghiên cứu sắt và thép thế giới (IISI) đã đưa ra dự báo về nhu cầu tiêu thụ thép tới cuối năm 2006. Theo đó, triển vọng sản xuất và tiêu thụ thép toàn cầu khá sáng sủa, nhu cầu tiêu thụ thép dự báo tăng từ 1.131,8 triệu tấn năm 2005 lên đến 1.150 triệu tấn vào năm 2006, và mức tăng trưởng của ngành thép toàn cầu sẽ vào khoảng 5,8% trong năm 2007.
Yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng này là do sự tăng trưởng nóng của nền kinh tế Trung Quốc. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc dân ở mức 2 con số thì ngành thép Trung Quốc được dự đoán sẽ tăng trưởng 13% trong năm 2006 và sẽ giảm xuống 12,1% trong năm 2007. Sự gia tăng này của ngành thép Trung Quốc thực chất là do khu vực cán thép của họ đóng vai trò trung tâm trong việc thực hiện hiện đại hoá nền kinh tế. Theo xu thế phát triển, nhu cầu sử dụng thép của thị trường Trung Quốc sẽ tăng 13% (lên 356 triệu tấn) trong năm 2006, tương đương với 32% tổng nhu cầu của toàn thế giới trong cùng năm.
Cùng với Trung Quốc, Ấn Độ cũng cho thấy khả năng tăng trưởng cao trong tổng cầu về thép với mức 8% trong năm 2006 và 2007. Tại một số khu vực khác trên thế giới, dự báo mức tăng trưởng có khả năng đạt tới 4,7% - tương đương với sản lượng khoảng 33 triệu tấn trong năm 2006. Nhìn tổng thể, mức tăng về tổng cầu thép của thế giới có thể sẽ giảm xuống còn 2,7% trong năm 2007.