Chương 1: Vai trò của Tiêu chuẩn hóa đối với hội nhập kinh tế quốc tế Ngoài việc giới thiệu khái quát một số khái niệm liên quan đến tiêu chuẩn hóa và cấp độ tiêu chuẩn hóa đối với công ty, quốc gia, khu vực và quốc tế, chương này sẽ đề cập tới vai trò của tiêu chuẩn hóa đối với hội nhập kinh tế quốc tế. Trong thời điểm hiện nay, hoạt động tiêu chuẩn hóa luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy công nghệ và phát triển thương mại, là nền tảng cho quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, đặc biệt từ 9 z khi Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Chương 2: Tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa 45 năm qua đã đánh dấu chặng đường hình thành và phát triển của hoạt động tiêu chuẩn hóa. Trong thời gian này, Việt Nam đã từng bước tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực như ISO, IEC, CAC.
và đã có những đóng góp quan trọng cho các tổ chức này. Ngoài ra, Việt Nam cũng tham gia vào các chương trình tiêu chuẩn hóa trong ASEAN, APEC, ASEM, Hiệp định thương mại Việt Mỹ và WTO. Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa giai đoạn này đã góp phần thúc đẩy thương mại giữa Việt Nam và các nước trên thế giới. Đây chính là môi trường thuận lợi cho sự hợp tác, hữu nghị và phát triển của hoạt động tiêu chuẩn hóa trên quy mô khu vực và toàn cầu.
Chương 3: Các biện pháp thúc đẩy tiêu chuẩn hóa của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Trong quá trình hội nhập, hoạt động tiêu chuẩn hóa đã đạt được nhiều thành tích, song cũng còn nhiều việc phải hoàn thiện, đổi mới để hoạt động tiêu chuẩn hóa luôn phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đặc biệt phục vụ cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Qua những thuận lợi và khó khăn đó, chương này sẽ đề xuất các giải pháp đổi mới hoạt động tiêu chuẩn hóa nhằm đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Đây chính là mục tiêu mà Việt Nam đã đặt ra để thúc đẩy hoạt động tiêu chuẩn hóa trong tương lai. 10 z CH¦¥NG 1 VAI TRß CñA TI£U CHUÈN HãA §èI VíI HéI NHËP KINH TÕ QUèC TÕ 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Lịch sử phát triển của tiêu chuẩn hóa Tuy mới được hình thành và phát triển một cách có tổ chức trong phạm vi quốc tế từ đầu thế kỷ này, song có thể nói hoạt động tiêu chuẩn hóa xuất hiện từ thời cổ xa xưa.
Lịch sử phát triển của tiêu chuẩn hóa gắn liền với lịch sử phát triển của loài người. Ban đầu là sự phát triển tự phát không có tổ chức. Thống nhất hoá là một trong những biểu hiện đầu tiên của tiêu chuẩn hóa. Trong cuộc sống hàng ngày, con người thường xuyên quan sát thiên nhiên và môi trường xung quanh để lựa chọn cho mình những gì thích hợp cần thiết cho sự sống.
Hiểu theo nghĩa rộng thì chữ viết, lịch, hệ đếm cũng là kết quả của tiêu chuẩn hóa. Ở Trung Quốc thời cổ đã có hệ đơn vị đo thống nhất, đến thế kỷ thứ 2 trước công nguyên đã ban hành các tiêu chuẩn thống nhất cho bánh xe ngựa, xe đẩy, xe kéo; chiều rộng cổng thành; ống nước; vũ khí; đường xá. Người Ai Cập cổ đã dùng những viên gạch “tiêu chuẩn” có kích thước thống (410mm x 200mm x 130mm) để xây dựng nhà cửa. Các kim tự tháp Ai Cập nổi tiếng đã tồn tại qua bao thế kỷ được xây dựng từ những viên đá có kích thước thống nhất và độ chính xác gia công cao.
11 z Người Hy Lạp đã để lại những công trình xây dựng được coi là mẫu mực của nghệ thuật kiến trúc cổ điển. Chính các công trình đó được xây dựng từ một số lượng không nhiều các cấu kiện “tiêu chuẩn”. Thời cổ La Mã đã quy định thống nhất cỡ đường kính ống dẫn nước của thành La Mã và cấm dùng ống dẫn có đường kính khác. Trang bị vũ khí của các đạo quân thời cổ đều được quy định thống nhất để có thể dễ dàng thay thế được.
Từ thời cổ xa xưa, người Việt đã có ý thức tìm tòi và tạo ra được các công cụ và đồ dùng có hình dáng hợp lý và thống nhất không khác nhiều so với ngày nay. Cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ XVIII đã tạo điều kiện cho tiêu chuẩn hóa phát triển một cách có ý thức, có tổ chức. Quy mô hoạt động tiêu chuẩn hóa ban đầu chủ yếu còn hạn chế trong phạm vi từng công ty. Nó đã tạo ra những khả năng to lớn trong việc hợp lý hoá sản xuất và mang lại lợi nhuận cao cho các công ty.
Do công nghiệp phát triển nhanh, sự trao đổi hàng hoá trong phạm vi quốc gia và quốc tế ngày càng mở rộng, quy mô hoạt động tiêu chuẩn hóa cũng đòi hỏi mở rộng hơn: từ phạm vi từng công ty sang phạm vi quốc gia và sau này phát triển ở cấp khu vực và quốc tế. Đầu thế kỷ XX, nhiều cơ quan tiêu chuẩn quốc gia ở hàng loạt nước được thành lập, đặc biệt Ủy ban Điện quốc tế (IEC) được thành lập ngay từ năm 1906 và Hội Tiêu chuẩn Quốc tế (ISA) tổ chức tiền thân của Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO) ngày nay được thành lập năm 1926. Ở Việt nam, Cơ quan Tiêu chuẩn quốc gia là Viện Đo lường - Tiêu chuẩn được thành lập từ năm 1962, sau này được gọi là Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng.2 Khái niệm Tiêu chuẩn Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) đã định nghĩa Tiêu chuẩn như sau: “Tiêu chuẩn là văn bản do cơ quan được thừa nhận ban hành để sử dụng rộng rãi và lâu dài; trong đó quy định các quy tắc, hướng dẫn hoặc các đặc tính đối với sản phẩm hoặc quy trình và phương pháp sản xuất có liên quan mà việc tuân thủ chúng là không bắt buộc”1. Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam ban hành năm 2006 đã quy định định nghĩa Tiêu chuẩn như sau: “Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân biệt, đánh giá sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh doanh xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của đối tượng này.
Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng”2. Qua định nghĩa trên, tiêu chuẩn được hiểu là các quy định kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động kinh tế xã hội và sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế. Tiêu chuẩn do các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức xây dựng dự thảo, đề nghị thẩm định. Bộ Khoa học và Công nghệ thẩm định và công bố đối với tiêu chuẩn quốc gia hoặc các tổ chức (tổ chức kinh tế, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp) công bố đối với tiêu chuẩn cơ sở.
Tiêu chuẩn có thể chia thành nhiều loại như: tiêu chuẩn cơ bản, tiêu chuẩn thuật ngữ, tiêu chuẩn yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn về phương pháp 1 [12, tr 15] 2 [6, tr 1] 13 z thử. Tiêu chuẩn là loại văn bản được áp dụng một cách tự nguyện. Toàn bộ hoặc một phần tiêu chuẩn có thể trở thành bắt buộc áp dụng khi được viện dẫn trong quy phạm pháp luật hoặc quy chuẩn kỹ thuật. Tiêu chuẩn được xây dựng dựa trên sự chấp nhận hoặc tham khảo tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài, dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ, tiến bộ kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn.
Mục tiêu của tiêu chuẩn là đảm bảo và nâng cao chất lượng của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; chất lượng cuộc sống; sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực, nguồn tài nguyên thiên nhiên; thuận lợi hóa thương mại, chống gian lận thương mại, bảo vệ lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Để thực hiện có hiệu quả việc xây dựng tiêu chuẩn, chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực hoặc tiêu chuẩn nước ngoài thành tiêu chuẩn Việt Nam và áp dụng các tiêu chuẩn đó, vấn đề đặt ra là cần phải đối xử như nhau đối với các sản phẩm, hàng hóa dịch vụ trong nước với nước ngoài, đảm bảo các tiêu chuẩn được xây dựng hoặc chấp nhận không được tạo ra các trở ngại không cần thiết đối với thương mại quốc tế, chủ động và tích cực tham gia xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, cùng với việc hội nhập nền kinh tế toàn cầu, việc đẩy mạnh hài hòa tiêu chuẩn Việt Nam với tiêu chuẩn quốc tế và nước ngoài là hết sức cần thiết nhằm xoá bỏ rào cản kỹ thuật đối với thương mại, phục vụ việc tham gia của Việt Nam vào Khu vực thương mại tự do (FTA) và nền kinh tế thế giới.3 Khái niệm Quy chuẩn kỹ thuật Hiệp định TBT/WTO đã định nghĩa Quy chuẩn kỹ thuật như sau: “Quy chuẩn kỹ thuật là văn bản quy định các đặc tính của sản phẩm hoặc quá trình 14 z có liên quan đến sản phẩm và quá trình sản xuất; bao gồm các điều khoản hành chính thích hợp mà việc tuân thủ chúng là bắt buộc” 3. Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật ban hành năm 2006 đã quy định định nghĩa về Quy chuẩn kỹ thuật: “Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế- xã hội phải tuân thủ để đảm bảo an toàn, vệ sinh, sức khỏe con người, bảo vệ động vật, thực vật, bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác.
Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng” 4.