Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn tài nguyên thông tin số và tổng quan về Trung tâm Lưu trữ và Thư viện Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy. Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn tài nguyên thông tin số tại Trung tâm Lưu trữ và Thư viện Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy. Chương 3: Một số giải pháp phát triển nguồn tài nguyên thông tin số tại Trung tâm Lưu trữ và Thư viện Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy. 17 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHÁT TRIEN NGUÒN TÀI NGUYÊN THONG TIN SO VA TONG QUAN VE TRUNG TÂM LƯU TRU VA THU VIEN TRƯỜNG DAI HỌC PHONG CHAY CHỮA CHAY 1.
Co sở lý luận về phát trién nguồn tài nguyên thông tin số 1. Khái niệm tài nguyên thông tin số và phát triển nguon tài nguyên thông tin số. s* Một số khái niệm liên quan Trước đây, khi nhắc đến thư viện mọi người thường nhắc đến khái niệm “tài liệu” — một trong những yếu tố quan trọng dé câu thành thư viện. Cùng với sự phát triển của xã hội, lĩnh vực TT-TV cũng nhanh chóng ứng dụng những thành tựu của KH&CN vào trong các hoạt động của mình.
Nếu trước đây thư viện chỉ lưu trữ các tài liệu in ấn truyền thống thì ngày nay xuất hiện ngày càng nhiều các tài liệu ghi trên các vật mang tin khác nhau. Từ đó xuất hiện nhiều thuật ngữ khác nhau như tài liệu điện tử, tài liệu số, thông tin điện tử, thông tin số, bộ sưu tập số, CSDL, siêu đữ liệu, nguồn lực thông tin,. Và dé làm rõ hơn nội ham của thuật ngữ TNTTS và phát triển TNTTS, tác giả tiến hành nghiên cứu làm rõ một số khái niệm liên quan. Cụ thể như sau: - Tài liệu điện tử Đầu những năm 90, Thuật ngữ “tài liệu điện tử” đã xuất hiện ở Nga trong tiêu chuẩn hiện hành GOST R 51141-98: “đó là tài liệu được tạo lập do sử dụng các vật mang tin và các phương pháp ghi bảo đảm xử lý thông tin của nó bằng máy tính điện tử”.
Sự phát triển của công nghệ máy tính đã làm cho khái niệm trên không còn phù hợp khi thông tin trên bất cứ tài liệu giấy nào cũng đều có thé đọc băng máy thông qua việc quét hình. Thuật ngữ tài liệu điện tử được đề cập lại trong tiêu chuẩn GOST R 52292 đó là “một hình thức trình bày tài liệu dưới dạng tập hợp các thực hiện liên quan với nhau trong môi trường điện tử và các thực hiện liên quan với nhau tương ứng với chúng trong môi trường số”. Đặc điểm của tài liệu điện tử là thông tin được trình bày dưới dạng “điện tử - số” và chỉ có thé đọc được nhờ sự trợ g1úp của các phương tiện kỹ thuật và chương trình tương thich.[23] 18 Theo định nghĩa của Lưu trữ Quốc gia Mỹ, tai liệu điện tử là tài liệu chứa đựng thông tin số, biểu đồ và thông tin dang văn bản có thé ghi lại trên bat kì vật mang tin bằng máy nào (nghĩa là chứa đựng thông tin đượcghi lại ở dạng chỉ có thể xử lý khi có sự trợ giúp của máy tinh.9] Tại Việt Nam, Luật Lưu trữ năm 2011 định nghĩa về tài liệu điện tử như sau: “Tài liệu điện tử” là vật mang tin được tao lập ở dạng mà thông tin trong đó được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bang phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự, hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tô chức, cá nhân hoặc là vật mang tin mà thông tin trong đó được tạo lập bằng việc biến đối các loại hình thông tin trên các vật mang tin khác sang thông tin dùng tin hiệu số [23] Theo Khoản 3, Điều 2, Thông tư 18/2014/TT-BVHTTDL, tài liệu điện tử là tài liệu dưới dạng số hóa, bao gồm báo, tạp chí điện tử, sách điện tử, tài liệu tham khảo dưới dạng trực tuyến hoặc đĩa CD-ROM, CSDL toàn văn, thư mục và các thông tin trên mạng. [4] Tài liệu số Cũng theo Luật Lưu trữ của Việt Nam năm 2011 thì “Tài liệu số” là vật mang tin mà thông tin trong đó được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân.[23] Khái niệm Tai liệu số được hiểu là tài liệu chứa đựng các thông tin được biểu diễn dưới dang kĩ thuật số, được xử lý lưu trữ và truy cập, phô biến trên máy tính, mang máy tinh và các thiết bị hiện đại khác [40, tr.
- Thông tin điện tử Theo tác giả Lê Văn Viết, khái niệm “7;hông tin điện tu” là thông tin được tạo ra, được lưu trữ và phô biến bang các phương tiện điện tử (là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kĩ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự) [47, tr.12] 19 Thông tin điện tử là thông tin được tao lập va truy cập trên máy tính, có nhiều dạng khác nhau, bao gồm thông tin được trình bày trên đĩa máy tính hay trên các vật mang từ tính, ví dụ đĩa mềm và CD-ROM. Nguồn thông tin điện tử dồi dao nhất là nguồn trực tuyến (Online) — là thông tin lưu trữ trên các mang máy tính như mạng Internet có thê truy cập và trao đổi qua máy tính. Một phần quan trọng nguồn tin điện tử được tổ chức dưới dạng các CSDL. Có nhiều CSDL được tra cứu thông qua sự liên kết mạng máy tính.12] - Sách điện tử Sách điện tử là một phương tiện số tương ứng của các loại sách in thông thường.
Loại sách này ngày càng phô biến do việc dễ dàng phân phát, chia sẻ trên Internet. Với dung lượng nhỏ gọn nhưng chứa đựng một lượng tri thức lớn, sách điện tử là một lựa chọn hữu ích cho nhu cầu lưu trữ và đọc sách mọi lúc, mọi nơi trên những thiết bị điện toán cá nhân như máy vi tính, máy tính bỏ túi (pocket PC), điện thoại thông minh,.Su bùng nỗ của internet giúp cho sách điện tử ngày càng dược nhiều người quan tâm. Hau hết các cuốn sách giấy nổi tiếng đã được chuyên thành sách điện tử dé chia sẻ trên mạng thông tin toàn cầu này. Nhiều trang web đã được lập ra dé bán hoặc chia sẻ sách điện tử [3, tr.7] - Số hóa tài liệu Số hóa tài liệu là việc biến đổi các loại hình thông tin sang thông tin số (các bit thông tin dữ liệu).
Các loại hình tài liệu (giấy, ảnh, phim,.) sau khi qua công đoạn xử lý bằng các thiết bị chuyên ngành và phần mềm ứng dụng sẽ được số hóa thành các bit mang thông tin dit liệu có thé sử dụng trên máy tinh, là yếu tố tạo nên những CSDL số, dé dàng tìm kiếm, trao đổi và chia sẻ kiến thức một cách thuận tiện nhất. [44] - Bộ sưu tập số Khái niệm “Bồ swu tap số”: bộ sưu tap số là một tập hợp có tô chức các tài liệu số theo một chủ đề nhất định. Các tài liệu số này có thê được thê hiện dưới nhiều định dạng khác nhau như: văn bản, hình anh, âm thanh, video,.nhưng đều có thé truy cập 20 qua một giao diện đồng nhất, qua đó NDT có thể truy cập, tìm kiếm dễ dàng thông qua máy tính, mạng máy tính hay các thiết bị hiện đại khác [40, tr.19] - Cơ sở dữ liệu Khái niệm “Cơ sở đữ liệu” CSDL là một tập hợp các đữ liệu có cấu trúc liên quan với nhau, được lưu trữ trên các thiết bị lưu trữ thông tin thứ cấp (băng từ, đĩa, CD-ROM, bộ nhớ máy tính,.) và được tô chức theo một mô hình nhất định nhằm thỏa mãn yêu cầu khai thác thông tin đồng thời của nhiều người sử dụng cùng một lúc [40, tr. - Siêu dữ liệu Thuật ngữ “Siêu dir liệu” có thé được định nghĩa đơn giản là dữ liệu về dit liệu.
Theo Tiến sĩ Warwick Cathro, “Siêu đữ liệu là những thành phần mô tả tài nguyên thông tin hoặc hỗ trợ thông tin truy cập đến tài nguyên thông tin”. Trong tài liệu, siêu dữ liệu được xác định là “dữ liệu mô tả các thuộc tính của đối tượng thông tin và trao cho các thuộc tính này ý nghĩa, khung cảnh và 6 chức. Siêu dữ liệu còn có thê được định nghĩa là đữ liệu có cấu trúc về đữ liệu”. Gail Hodge định nghĩa siêu đữ liệu là “thông tin có cấu trúc mà nó mô tả, giải thích, định vị, hoặc làm cho nguồn tin trở nên dé tìm kiếm, sử dụng và quản lý hơn.
Siêu dữ liệu được hiểu là dữ liệu về dit liệu hoặc thông tin về thông tin”. Nói tóm lại, siêu dữ liệu là thông tin mô tả tài nguyên thông tin [45,tr. - Nguồn lực thông tin Khái niệm Nguồn lực thông tin cũng là một trong những khái niệm mà nội hàm của nó trước đây tồn tại nhiều cách hiéu khác nhau tùy thuộc vào các cách tiếp cận khác nhau. Trên thế giới có rất nhiều các quan điểm, cách hiéu khác nhau về NLTT.
Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học của Liên hiệp quốc (UNESCO) cho rằng: "Nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu thé hiện dưới dạng văn bản, số, hình ảnh hoặc âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước và không quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức và ngành công nghiệp thông tin". Knoppers, Phó chủ tịch Ủy ban quản lý các dịch vụ thông tin ở Ottawa, Canada: "NLTT là một phần của sản phẩm trí tuệ, sản phẩm lao động khoa học, kiến thức, sáng tao của con người, phản ánh những thông tin được kiểm soát, được ghi lại dưới một dạng vật chất nào đó. NLTT phải được cấu trúc, tổ chức lại giup con người có thể tìm và khai thác được chúng theo nhiều cách khác nhau" [33, tr.21] Ở Việt Nam, khái niệm NLTT được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh “Information resourece”. Theo từ điển tiếng Việt, “nguồn” là nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra hoặc là nơi có thể cung cấp một cái gì đó.
Theo cách hiểu như vậy, một số người cho rằng NLTT là “sức mạnh thông tin” của một t6 chức, bao hàm cả NLTT của tô chức và khả năng với tới các nguồn tin khác nhau. Theo nghĩa này thì tất cả các nguôn thông tin được sở hữu bởi t6 chức hoặc NDT của tô chức đó có thể với tới được thì đều có thé gọi là NLTT của tô chức đó. Nguyễn Viết Nghĩa, NLTT và vốn tài liệu là một.