CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP 1.Tính khách quan của TCLTCN Theo dòng lịch sử, nền kinh tế nông nghiệp gắn liền với sản xuất nhỏ và tiểu thủ công, công nghệ kĩ thuật lạc hậu, sản xuất theo lối truyền thống. Khi máy móc ra đời, sản xuất công nghiệp hình thành và thay thế dần sản xuất nông nghiệp (chuyển dịch cơ cấu, giải phóng sức lao động). Thoạt đầu, công nghiệp được hình thành và phát triển tự phát rải rác ở một số nước, lúc đó chưa ai nghĩ đến tổ chức, quy hoạch lãnh thổ. Càng về sau, công nghiệp phát triển lan rộng, đồng thời được CNH và HĐH, theo đó người ta chú ý đến việc nghiên cứu -tổ chức sắp xếp nhà máy, xí nghiệp cần đặt ở đâu cho thích hợp và có hiệu quả cao.
Đó là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất công nghiệp. Công việc nghiên cứu, tổ chức, sắp xếp, bố trí phân bố theo lãnh thổ khoa học, hợp lí bao nhiêu thì nền sản xuất công nghiệp phát triển nhanh và bền vững bấy nhiêu. Khi sản xuất công nghiệp tiến đến đỉnh cao (ngưỡng của hậu công nghiệp) thì đồng hành với quá trình đó là sự lớn mạnh và thay thế vai trò chủ đạo bởi khu vực kinh tế dịch vụ, đó là giai đoạn chuyển sang nền kinh tế tri thức. Cùng với sự phát triển và đòi hỏi tất yếu CNH, HĐH nền kinh tế, sự phân công lao động công nghiệp theo ngành và theo lãnh thổ đồng thời diễn ra và đòi hỏi ngày càng cao về phân công lao động.
Đó cũng là một tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy việc nghiên cứu TCLTCN.Các khái niêm, lí thuyết liên quan 1.Khái niệm không gian Các Mác đã nói: "Với trình độ phát triển nhất định của năng suất lao động bao giờ cũng cần một không gian nào đó". Theo từ điển Địa lí (Oxford Universiry Press, 1997) không gian (space) là phạm vi của một vùng hay một khu vực thường được thể hiện dưới dạng bề mặt Trái Đất. Mối quan hệ không gian giữ vị trí trung tâm trong Địa lí học. Ở đây cần phân biệt hai 17 Luan van khái niệm không gian tuyệt đối và không gian tương đối.
Không gian tuyệt đối là một không gian tuyệt đối khách quan. Không gian tương đối là một không gian nhận thức bởi con người hay xã hội và có liên quan tới những mối liên hệ giữa những sự kiện và khuynh hướng của sự kiện đó.Cơ sở của tổ chức không gian sản xuất Khi nói tới tể chức không gian là nói tới không gian lãnh thổ KT - XH của một nước, một vùng, một địa phương cụ thể trong hình thái xã hội nhất định, trong đó không gian sản xuất là những bộ phận được hình thành và phát triển từ tự phát ở trình độ thấp và lên tự giác ở trình độ cao có tổ chức khoa học chặt chẽ. Không gian sản xuất là những bộ phận lãnh thổ, trong đó diễn ra các hoạt động sản xuất khác nhau, đó là một phần trong tổ chức lãnh thổ kinh tế - xã hội. Lãnh thổ một nước là một bộ phận của bề mặt Trái Đất thuộc chủ quyền của một quốc gia.
Lãnh thổ bao gồm phần đất liền, vùng trời, vùng biển. Giới hạn lãnh thổ là đường biên giới, hải giới và không phận của quốc gia tạo nên một tổng thể hình khối không gian ba chiều.BAlaev : Tổ chức lãnh thổ xã hội là sự kết hợp các cơ cấu lãnh thổ đang hoạt động như bố trí sắp xếp dân cư, sản xuất, sử dụng tài nguyên thiên nhiên,. được liên kết lại bởi cơ cấu quản lí với mục đích tái sản xuất cuộc sống xã hội, phù hợp với các mục đích và trên cơ sở kinh tế hiện hành trong hình thái xã hội đó. Như vậy, bản chất của tổ chức không gian KT - XH là : - Tính tổ chức ngày càng cao, càng hiệu quả, do con người quyết định.
- Tính không gian lãnh thổ được bố trí, định vị ngày càng hợp lí theo trình độ và hình thái kinh tế- xã hội. - Tính hiện đại và đi trước thời gian. Ở những nước đã sớm CNH, sớm đi vào kinh tế thị trường từ thế kỉ XIX, tổ chức lãnh thổ đã trở thành khoa học tổ chức quy hoạch và quản lí điều hành, tổ chức lãnh thổ được hiểu là: "nghệ thuật sử dụng lãnh thổ một cách đúng đắn và hiệu quả "( Gaudemar, 1992 ). Nhiệm vụ của TCLT là phân bố, định vị, xác định tỉ lệ và quan 18 Luan van hệ hợp lí về phát triển KT - XH giữa các ngành trong một vùng, giữa các vùng trong một quốc gia và trên mức độ nhất định có tính đến mối liên kết, tương tác giữa các quốc gia với nhau, tạo nên giá trị mới tối ưu, nhờ có sự bố trí sắp xếp hợp lí hài hoà giữa các đơn vị lãnh thổ khác nhau trong cùng một tỉnh, một vùng, một nước, đặc biệt điều này càng có ý nghĩa quan trọng trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá như hiện nay.
Tổ chức lãnh thổ là sự nghiên cứu, tìm kiểm trong khung cảnh lãnh thổ sự phân bố sản xuất phù hợp với các nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng trong và ngoài nước.Một số khái niệm và nội dung về tổ chức không gian • Khái niêm không gian KT - XH U - Là một bộ phận lãnh thổ có khả năng cung cấp các nguồn lực phát triển, chứa đựng các hoạt động KT - XH thông qua những quan hệ phân bố, những liên kết kinh tế liên ngành, liên vùng và quốc tế. Dưới góc độ tổ chức không gian, người ta thường xem không gian KT - XH là một trường lực (kiểu như các trường lực trong vật lí học), với 3 thành phần sau đây : + Trung tâm KT - XH (còn gọi là cực hay nút phát triển): là nơi có nhiều nguồn lực thuận lợi, tập trung dân cư đông đúc, các hoạt động công nghiệp chế biến và dịch vụ phát triển hơn cả. Đây là bộ phận tạo ra các lực liên kết kinh tế-xã hội, hay còn được gọi là bộ phận tạo lực. + Hành lang phát triển: là nơi diễn ra các dòng liên kết kinh tế - xã hội giữa các trung tâm.
Thực chất đây chính là mạng lưới hạ tầng, bao gồm: đường sá, bến bãi, điện, thông tin liên lạc thông qua hành lang, sức phát triển từ trung tâm sẽ dẫn truyền ra các bề mặt, hành lang phát triển đi đến đâu ở đó sẽ có sự phát triển. + Bề mặt: là những "vùng trống" của không gian kinh tế - xã hội, nơi dân cư thưa thớt, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp hoặc công nghiệp khai thác đơn thuần. Bề mặt là bộ phận chịu tác động bởi các lực từ trung tâm thông qua hành lang, những nơi nào gần trung tâm và hành lang thì sẽ có trình độ phát triển cao hơn; càng xa trung tâm, hành lang thì càng kém phát triển. Nơi nào sức ảnh hưởng của trung tâm trở nên 19 Luan van không đáng kể thì nơi đó chính là ranh giới của bề mặt.
o Vùng phân cực: U U Vùng phân cực là một không gian không đồng nhất, các bộ phận khác nhau của nó có tính chất bổ sung lẫn nhau và duy trì với một cực chi phối và trao đổi với cực này nhiều hơn bất kì một cực nào khác có cùng quy mô tầm cỡ chi phối một vùng kế bên. "Vùng phân cực là tổng thể những liên hệ có thang bậc, tồn tại giữ các cực kinh tế, tuy theo các dòng nối liền chúng với nhau" (J. Hai yếu tố đặc trưng của vùng phân cực là khái niệm liên hệ (liên kết) và khái niệm thang bậc (phi đối xứng). Sự phân cực là tổng thể một mạng lưới những giao lưu, những liên hệ.
Chính vì các đơn vị kinh tế tồn tại trên lãnh thổ (ngành, khu vực, thành phố) giao lưu với nhau mà hợp thành những tổng thể phân cực. Các liên hệ được quan tâm xem xét: + Liên hệ vị trí - địa lí. + Liên hệ kĩ thuật - công nghệ. + Liên hệ kinh tế, thị trường song phương, đa phương, o Khái niệm về "cực" U Cực là một phức hợp tổng thể những hoạt động kinh tế - xã hội có hiệu quả, tạo nên sức hút, trên cơ sở những liên hệ bổ sung lẫn nhau đa chiều, nhờ đó mà duy trì được sức hút - lí do tồn tại cực.
+ Cực phát triển : khi tổng thể các hoạt động của cực có một hoạt động có tính động lực thì đó là cực phát triển. Cực phát triển là một phức hợp trong đó có một hoạt động động lực xoay quanh nó, nhờ đó có những tác động lôi cuốn quan trọng đối với các khu vực xung quanh, các vệ tinh và toàn bộ nền kinh tế vùng. Tác động ấy rất đa dạng và thể hiện khác nhau theo tình hình cụ thể, nhưng bản chất là năng động, đổi mới dẫn đến tiến bộ kinh tế có thể thúc đẩy tạo lập những ngành hoạt động mới, có thể làm cho tổng quy mô của ngành hiện có thay đổi cơ cấu, đổi mới kĩ thuật, đổi mới phương thức tổ chức. 20 Luan van + Cực tăng trưởng : là một tổng thể, một phức hợp những hoạt động, chịu ảnh hưởng thúc đẩy từ bên ngoài của cực phát triển.
Các cực tăng trưởng là các vệ tinh của cực phát triển. Nhịp độ phát triển của các cực vệ tinh - cực tăng trưởng, thường là mạnh, bởi chúng phản ứng mạnh và sâu đối với những sự thúc đẩy lôi cuốn từ cực phát triển. + Cực liên kết : là một cực phát triển gắn liền hai hệ thống đô thị từ khi chưa có mối liên hệ nào cho đến lúc nó tạo ra các mối liên hệ chặt chẽ, nhờ đó không chỉ tác dụng lôi cuốn của nó tăng lên mà các cực tăng trưởng vệ tinh cũng tăng lên. - Thang bậc (tính phi đối xứng) : hiện tượng phân cực dựa trên sự tồn tại của các liên hệ, sau đó đưa vào các liên hệ này tiêu chuẩn thang bậc.
Thang bậc là yếu tố chìa khóa " của sự phân cực". + Thang bậc địa lí, (thang bậc vùng). + Thang bậc ngành, (xí nghiệp). o Sức hút U Những thang bậc thể hiện sức lôi cuốn, sức hút của một ngành, một xí nghiệp hay của một cực phát triển.
Những ảnh hưởng lôi cuốn ấy có nhiều loại : + Sức hút về trao đổi hàng hoá, với tính cách là nguồn cung cấp lớn nhất hay thị trường lớn nhất.