CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm về răng lệch-ngầm Thuật ngữ “răng khôn” dùng để chỉ răng cối lớn thứ 3 trên cung hàm, là răng mọc trễ nhất trên cung hàm và có mức độ lệch, ngầm cao nhất [3], [33]. Răng lệch-ngầm: là răng không mọc hoặc mọc không hoàn toàn, đó là răng thất bại trong việc phát triển bình thường và có vị trí chức năng bất thường. Nguyên nhân có thể do thiếu chỗ, bị tắt nghẽn do một răng khác, xương hay do các bất thường trong quá trình mọc răng [26].
Răng mọc ngầm: là răng không mọc một phần hoặc hoàn toàn, do răng khác, do xương hay mô mềm ngăn cản sự mọc lên của răng đó. Tuỳ theo tư thế giải phẫu của răng mà có các kiểu ngầm. Việc chẩn đoán một răng ngầm chỉ khi nào quá tuổi mọc, mà không mọc được thì được xem là một răng ngầm [4]. Răng mọc lệch: là răng không mọc hay đã mọc nhưng nằm ở tư thế bất thường trên hàm.
Răng mọc lệch do việc thay răng sữa và mọc răng vĩnh viễn, không đủ chỗ trên cung hàm hoặc do di truyền [4]. Răng không mọc: là răng không xuyên qua được niêm mạc miệng sau khi đã qua thời kỳ mọc [4]. Nguyên nhân của răng mọc lệch-ngầm Nguyên nhân răng mọc lệch-ngầm có thể chia thành 2 nguyên nhân: - Nguyên nhân tại chỗ [3], [19]: Theo xu hướng phát triển, sự mất cân đối kích thước xương hàm và răng ngày càng trầm trọng, vì thế răng vĩnh viễn mọc sau sẽ có nguy cơ bị kẹt và ngầm do thiếu chỗ. Trường hợp mất răng vĩnh viễn sớm, nhai một bên lâu ngày cũng làm cho xương hàm bên không nhai phát triển kém.
4 Niêm mạc và mô mềm phủ lên xương quá dày, chắc làm răng không mọc lên được. Răng khôn mọc lên ở độ tuổi trưởng thành, khi xương hàm không còn tăng trưởng, xương có độ cứng cao, vì vậy nó thường mọc lệch và ngầm. - Nguyên nhân toàn thân [1], [3], [19]: Trong thời kì mầm răng khôn phát triển, cũng là lúc xương hàm đang tăng trưởng bằng cách tiêu xương mặt trong và đắp xương mặt ngoài, xương hàm phát triển ra trước và xuống dưới. Sự tăng trưởng này tác động làm thân răng khôn hay lệch phía gần, còn chân lệch phía xa, nhất là răng khôn hàm dưới.
Theo mô phôi học, ba răng cối lớn có cùng chung thừng liên bào, khi răng cối thứ nhất và thứ hai mọc sẽ kéo theo thân răng khôn nghiêng về phía răng cối lớn thứ hai và chân răng dễ nghiêng về góc hàm do tác động của sự tăng trưởng xương hàm. Ngoài ra, yếu tố di truyền cũng có vai trò nhất định: khi một cá thể sinh ra từ gia đình có xương hàm nhỏ hay kích thước răng lớn, thường sẽ có hiện tượng răng chen chúc hoặc thiếu chỗ mọc. Phân loại RKHD lệch-ngầm Y văn trong và ngoài nước đã đưa ra nhiều cách khác nhau để phân loại răng khôn lệch, ngầm. Nhìn chung có thể chia làm 2 nhóm chính: nhóm theo tư thế, hình dáng, vị trí và nhóm theo phương pháp phẫu thuật.
Theo tư thế, hình dáng, vị trí: 1. Phân loại răng khôn hàm dưới của Pell-Gregory (1971): dựa vào mối tương quan khoảng cách từ cành đứng xương hàm dưới và răng 7 để phân loại [3] 5 Tương quan với cành đứng xương hàm dưới: Gọi a: là khoảng cách từ mặt xa răng 7 đến bờ trước cành đứng xương hàm dưới. b: là chiều dài gần xa thân răng khôn. Loại I: a>b: phía xa răng cối lớn thứ 2 có đủ khoảng cho phép răng khôn có thể mọc lên hoàn toàn nếu hướng mọc thích hợp.
Loại II: a<b: khoảng cách giữa răng cối lớn thứ hai và cành đứng xương hàm quá nhỏ không cho phép răng khôn mọc hoàn toàn. Loại III: a rất nhỏ hoặc bằng 0: phần lớn hoặc toàn bộ thân răng khôn nắm hoàn toàn trong cành đứng. Tương quan với cành đứng xương hàm dưới (Nguồn: Neelima Anil Malik, Textbook of Oral and Maxillofacial Surgery, 3nd, pp. 148) Tương quan độ sâu so với mặt nhai răng cối lớn thứ hai: Có 3 vị trí để đánh giá độ sâu của răng khôn: A: điểm cao nhất của RKHD nằm ngang hay cao hơn mặt nhai răng 7.
B: điểm cao nhất của RKHD nằm giữa mặt nhai và cổ răng 7. C: điểm cao nhất của RKHD nằm thấp hơn cổ răng 7. Tương quan độ sâu so với mặt nhai răng cối lớn thứ hai (Nguồn: Neelima Anil Malik, Textbook of Oral and Maxillofacial Surgery, 3nd, pp. Phân loại RKHD lệch ngầm của Winter (1926): dựa vào tư thế trụcRKHD so với trục răng cối lớn thứ hai [3] Có 7 vị trí của lệch của trục răng khôn: đứng, ngang, ngược, lệch gần, lệch xa, lệch ngoài và lệch trong.
Tương quan trục RKHD và trục răng 7 (Nguồn: Neelima Anil Malik, Textbook of Oral and Maxillofacial Surgery, 3nd, pp. Phân loại của Berger (1943) dựa vào tư thế và vị trí cách thức mọc RKHD [4], [22]: - RKHD lệch. - Răng không mọc. - Răng mọc kẹt.
- Răng lạc chỗ. Trong răng mọc kẹt chia thành 2 nhóm: - Nhóm 1: ngầm dưới niêm mạc: Loại A: không đụng vào răng 7. Loại B: cản trở răng 7. - Nhóm 2: ngầm trong xương: Loại A: sát răng 7.
Loại B: cản trở răng 7. Phân loại của José barreiro-Torres và cộng sự (2010) dựa vào mức độ ngầm [21]: - Loại 1: mọc hoàn toàn. - Loại 2: phủ 1 phần bởi mô mềm. - Loại 3: phủ hoàn toàn bởi mô mềm.
- Loại 4: phủ hoàn toàn bởi xương. Các phân loại của một số tác giả khác như [16]: - Các tác giả Pháp J.Donesnard (1977) phân loại RKHD theo hình thể chân răng, vị trí, ba chiều không gian, sự tương quan với răng ống răng dưới. - Phân loại của G.Ginestet và cộng sự (1986) phân loại RKHD lệch ngầm theo vị trí, tư thế và mức độ ngầm. Theo phương pháp phẫu thuật 1.
Phân loại của Parant (1981) xếp thành 4 loại [17]: - Loại I: Chỉ cần bộc lộ tạo rãnh xương, sau khi tựa bẩy vào phần trước rãnh đã tạo, chỉ định cho: + Lệch không nhiều lắm, ít hơn 900. + Chân chụm, đường kính chân răng nhỏ hơn thân. + Chân cong xuôi chiều bẩy. + Không bị răng 7 cản trở nhiều.
- Loại II: Nhổ răng có bộc lộ xương + cắt cổ răng, chỉ định cho: + Răng lệch gần chân ngược chiều (cong về phía gần). + Răng nằm sâu trong xương. + Răng lộn ngược. + Răng lệch ngoài.
+ Răng lệch xa ngược chiều. - Loại III: Nhổ răng có mở xương + cắt cổ răng + chia chân răng, chỉ định cho: + Răng nhiều chân xòe rộng. + Hai chân răng cong ngược chiều. - Loại IV: Nhổ răng khó phải kết hợp nhiều thủ thuật, chỉ định cho: + Răng nằm thấp sát răng 7.
+ Thiếu răng 6, răng 8 lệch ôm khít mặt xa răng 7. + Nhiều chân nhỏ, nhiều hướng khó xác định bằng X-quang. + Đường kính chân răng to hơn thân răng (răng hình khối). + Chân bẹt, song song, khó dùng bẩy, dễ trượt.
+ Răng sát với ống thần kinh răng dưới. Phân loại mức độ khó nhổ RKHD theo Mai Đình Hưng [3]: Theo sách Oral Surgery của tác giả G.Pedersen (1988), bổ sung và cải biên Mai Đình Hưng (1995) đã đề nghị chỉ số khó nhổ của RKHD lệch ngầm như sau: - Tương quan khoảng rộng xương: + Loại I 1 điểm. + Loại II 2 điểm. + Loại III 3 điểm.
- Vị trí độ sâu: + Vị trí A 1-2 điểm. + Vị trí B 3 điểm. + Vị trí C 4 điểm. - Trục răng: + Thẳng, hơi lệch gần 1 điểm.
+ Ngang, má, lưỡi, xa 2 điểm. + Thẳng + vị trí B, C 3 điểm. + Lệch xa + vị trí B, C 4 điểm. - Chân răng: + Chân chụm, xuôi chiều, thon 1 điểm.
+ Hai chân dạng xuôi chiều 2 điểm. + Ba chân dạng xuôi chiều, nhiều chân chụm ngược chiều, một chân dùi trống 3 điểm. + Hai hay ba chân dang nhiều hướng chân dang rộng hơn cổ và thân răng 4 điểm. 10 Như vậy thang điểm đánh giá mức độ khó nhổ như sau: + Ít khó nhổ từ 1-5 điểm.
+ Khó nhổ trung bình từ 6-10 điểm. + Rất khó nhổ từ 11-15 điểm. Trong các phân loại RKHD lệch-ngầm, các tác giả đều nhằm mục đích đưa ra một khái niệm rõ ràng, chính xác và dễ hiểu để phân biệt được các loại RKHD lệch ngầm, cuối cùng giúp cho việc chẩn đoán và xử trí thích hợp. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phân loại của Pell-Gregory và Winter là phân loại dễ hiểu, nêu lên được mức độ khó khăn và giúp lựa chọn phương pháp phẫu thuật thích hợp.
Phân loại đã được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu về răng khôn trên thế giới và trong nước. Đồng thời nó cũng được Bộ môn nhổ răng-phẫu thuật miệng, khoa Răng Hàm Mặt, trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng để làm giáo trình giảng dạy. Chẩn đoán RKHD lệch-ngầm Để chẩn đoán răng khôn hàm dưới lệch, cần căn cứ vào nhiều yếu tố như: tuổi mọc răng, các triệu chứng tại vị trí mọc răng, khám lâm sàng và quan trọng hơn cả là phải có phim X-quang để xác định chính xác mức độ lệch của răng, độ kẹt, hình thể chân răng, các dị dạng, để đưa ra kế hoạch điều trị chính xác và phù hợp với từng người [3], [4], [17], [19]. Các loại phim X-quang thường sử dụng là phim toàn cảnh, phim quanh chóp, phim chếch nghiêng.Bên cạnh đó, phim CT-Scan, cũng góp phần rất lớn trong việc chẩn đoán RKHD lệch-ngầm, do những ưu điểm vượt trội như giúp khảo sát tình trạng RKHD trên ba chiều không gian, cho phép quan sát rõ RKHD và những cấu trúc lân cận… 11 Tuy nhiên, do điều kiện hạn chế nên trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ sử dụng phim quanh chóp.
Các cấu trúc có thể khảo sát được trên phim quanh chóp [19], [25]: + Độ nghiêng của răng. + Độ ngầm của răng. + Hình thái học chân răng: số lượng, chiều dài, độ cong, khoảng cách + vùng chẽ giữa các chân. + Có hay không có nang quanh thân răng.
+ Tương quan giữa chân răng và ống thần kinh răng dưới. - Kỹ thuật chụp phim trong miệng [31]: + Kỹ thuật chụp phim phân giác: Qui luật: Góc A có phân giác là AC. Cạnh AC thẳng góc với cạnh BD. Góc DAC=góc CAB, và góc ACD=góc ACB.
Nếu hai tam giác có hai góc bằng nhau và một cạnh chung, thì hai tam giác đó bằng nhau. Vậy tam giác DAC bằng tam giác CAB. Kỹ thuật chụp phim phân giác (Nguồn: Olaf E. Langla, Principles of dental imaging) + Kỹ thuật chụp phim song song: 12 Phim đặt song song với răng.
Chùm tia vuông góc với răng và phim.