Chương 1: Tổng quan công nghệ sản xuất của nhà máy. - Chương 2: Khảo sát, tính toán tháp chưng cất cồn. - Chương 3: Ứng dụng lý thuyết điều khiển tách kênh để nâng cao chất lượng của tháp chưng cất. - Chương 4: Thực nghiệm - Kết luận và kiến nghị Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CỦA NHÀ MÁY 1.
Giới thiệu về nhà máy: - cồn đ. - , Tây ban nha, Italia.cồn Whisky, Napoleon… - 3 15% V. - Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 3 và cồn ( Ethanol) Điển hình là nhà máy sản xuất Ethanol khu vực phía bắc do Tập đoàn dầu khí Quốc gia làm chủ đầu tư xây dựng * Nhà máy tọa lạc ở: Xã Cổ Triết huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ. * Dự án xây dựng Nhà máy sản xuất Bio-ethanol khu vực phía Bắc do PVB làm chủ đầu tư năm trong đề án phát triển nhiên liệu sinh học của Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025 được Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt tại Quyết định số 177/2007/QĐ - Ttg ngày 20/11/2007.
* Đây là nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học đầu tiên được xây dựng ở miền Bắc Việt Nam có quy mô đầu tư lớn, công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại. Nhà máy có tổng vốn đầu tư 80 triệu USD, được xây dựng tại huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ trên diện tích 50ha, với công suất thiết kế 100 nghìn m3/ năm. Nhà máy sẽ sản xuất cồn ethanol (C2H5OH) tuyết đối (nồng độ ≥99,7%) Nguyên liệu chính cung cấp cho nhà máy là sắn khô và mía, được canh tác trên diện tích là 35.000ha và sẽ giải quyết được công ăn việc làm cho khoảng 23.000 lao động nông nghiệp địa phương. * Ethanol là nhiên liệu dạng cồn, được sản xuất bằng phương pháp lên men và chưng cất nguyên liệu từ nước mía, mật hoặc rỉ đường các loại ngũ cốc chứa tinh bột như sắn….
ethanol phải được làm khan để đạt độ cồn trên 99,7%. * Sự ra đời Nhà máy sản xuất Bio-ethanol khu vực phía Bắc sẽ góp phần tăng thu nhập cho người nông dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, chuyển hướng tích cực từ các cây trồng khác sang cây nguyên liệu, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động công nghiệp cũng như nông nghiệp, tạo hiệu ứng dây truyền phát triển kinh tế, góp phần xây dựng xóa đói giảm nghèo, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Quy trình sản xuất của nhà máy: Sắn Tách tạp chất/ Nghiền Nấu nguyên liệu Đường hóa dịch cháo Lên men Chưng cất Khử nuớc Ethanol ( cồn) Xử lý nuớc thải Hình 1.1: Sơ đồ công nghệ của nhà máy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.
Sắn: - Được cung cấp bởi chủ đầu tư (Petro Việt Nam) - Về cơ bản củ sắn có 3 thành phần chính: Vỏ, thịt củ và lõi, ngoài ra còn có cuống và rễ củ * Vỏ sắn gồm có 2 phần là vỏ gỗ và vỏ cùi. Vỏ gỗ có tác dụng bảo vệ củ và chống mất nước của củ, tuy nhiên vỏ gỗ dễ bị mất khi thu hoạch và vận chuyển. Ty lệ vỏ củ phụ thuộc vào giống sắn, độ già và khối lượng củ thường chiếm 1,5% đến 2%. vỏ cùi là một lớp tế bào cứng phủ bên ngoài, thành phần chủ yếu là xelluloza ngoài ra còn có chứa polyphenol, enzim, và linamarin.
* Phần củ thịt chứa nhiều tinh bột, protein và các chất dầu, một ít polyphenol, độc tố và enzim. * Lõi sắn nằm ở tâm củ dọc suốt chiều dài, thành phần chủ yếu là xelluloza. Lõi có chức năng dẫn nước và các chất dinh dưỡng giữa cây và củ đồng thời giúp thoát nước khi phơi hoặc sấy. - Thành phần củ sắn tươi dao động trong giới hạn khá lớn: tinh bột 20 đến 34%, protein 0,85 đến 1,2%, chất béo 0,3 đến 0,4%, xelluloza 1 đến 3,1%, chất tro 0,54%, polyphenol 0,1 đến 0,3% và nước 60 đến 74,2%.
Ngoài ra trong sắn còn chứa một lượng Vitamin và độc tố. vitamin trong sắn thuộc nhóm B. Các Vitamin này sẽ bị mất một phần khi chế biến và nhất là khi nấu trong sản xuất cồn. - Độc tố trong sắn có tên chung là phazéolunatin gồm 2 glucozit Linamarin và Lotaustralin.
Các độc tố này thường tập trung ở vỏ cùi. bình thường phazéolunatin không độc nhưng khi bị thủy phân thì các glucozit này sẽ giải phóng axit HCN. - Sắt tươi đã thái lát phơi khô sẽ giảm đáng kể hàm lượng glucozit gây độc kể trên. Đặc biệt trong sản xuất cồn, khi nấu ở nhiệt độ cao đã pha loãng nước nên với hàm lượng ít chưa ảnh hưởng đến nấm men.
hơn nữa các muối xyanat khi chưng cất không bay hơi nên bị loại điều này là rất có lợi trong sản xuất. Do đó trong sản xuất còn nguyên liệu tinh bột sắn dùng chủ yếu là sắn lát khô hoặc là sắn dui. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Tách tạp chất/nghiền: - Sắn được làm sạch và tách những tạp chất sau đó được đưa vào nhà máy sau đó nghiền.
Ở đấy sắn được nghiền ra thành dạng mịn gọi là bột sắn. - Nghiền nguyên liệu nhằm mục đích phá vỡ cấu trúc màng tế bào thực vật để giải phóng các hạt tinh bột khỏi các mô. Hiện nay ở nước ta thường dùng các loại máy nghiền búa. với sắn khô khi nấu ở áp suất thường thì nghiền càng mịn càng tốt.
- Đặc điểm kỹ thuật của bột sắn Đặc điểm kỹ thuật của bột sắn Lên men tinh bột 23% Không lên men rắn 6,02% (vật chất hữu trong sắn) Vật liệu ngoài 0,01% (cát, đá,….v v) Nhiệt độ (max) 51,10C Bảng 1 Đặc điểm kỹ thuật của bột sắn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Nấu nguyên liệu - Mục đích chủ yếu của quá trình này là: Phá vỡ màng tế bào của tinh bột để biến chúng thành dạng hòa tan trong dung dịch bằng cách nấu nguyên liệu. Quá trình nấu rất quan trọng trong sản xuất cồn, các quy trình kỹ thuật tiếp theo tốt hay xấu phụ thuộc rất nhiều vào kết quả nấu nguyên liệu. - Bột sắn được trộn lẫn và kết hợp với quá trình nóng ngưng tụ trong bể trộn hỗn hợp.
Bể trộn này được duy trì ở nhiệt độ 800C (1800F) các alpha- amylase enzyme được thêm vào để hỗ trợ trong việc phá vỡ tinh bột thành đường lên men. Amoniac được thêm vào để kiểm tra độ pH và được cung cấp một nguồn nitơ cho nấm men dinh dưỡng. Dịch cháo nghiền sau đó được bơm vào bể hóa lỏng, tinh bột được thủy phân thành dextrin bởi hoạt động của enzymealpha amylase. Đƣờng hóa: - Tinh bột hòa tan trong dịch cháo sau khi nấu chưa xong chưa thể lên men trực tiếp để thành rượu được.
Để lên men được phải trải qua quá trình thủy phân do tác dụng của xúc tác amylaza để thành đường. Quá trình này được gọi là đường hóa nó đóng vai trò quan trọng trong công nghệ sản xuất cồn, nó quyết định phần lớn hiệu suất thu hồi cồn do giảm bớt hoặc gia tăng đường và tinh bột còn sót sau khi lên men. Trong quá trình đường hóa thì tác nhân đường hóa đóng một vai trò quan trọng. Ở nước ta thường dùng amylaza thu được từ nuôi cấy nấm mốc hoặc các chế phẩm amylaza nhập về.
Hiện nay chế phẩm nhập ngoại là chính do chất lượng tốt mà chi phí lại không đắt hơn so với chi phí để tự nuôi cấy. Và chủ yếu nhập về từ Đan Mạch. - Quá trình đường hóa dịch cháo nấu gồm các công đoạn sau: * Làm cho dịch cháo tới nhiệt độ đường hóa. * Cho chế phẩm amylaza vào dịch cháo giữ ở nhiệt độ trên trong thời gian xác định để amylaza chuyển hóa thành tinh bột đường.
* Làm lạnh dịch đường hóa tới nhiệt độ lên men. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 * Sau khi đường hóa nhiệt độ dung dịch đường là 300C làm lượng đường đạt 80 đến 100g/l. - Dịch cháo nghiền sau đó đun nóng bằng hơi nước trong trao đổi nhiệt để hoàn thành việc chuyển đổi tinh bột và khử trùng các dịch nghiền. Sau khi nấu, dịch cháo nghiền được làm lạnh trong một loạt các bộ trao đổi nhiệt và làm nguyên liệu (thức ăn) cho bể lên men.
Lên men: - Mục đích của quá trình lên men: Đường hóa xong dịch đường được làm lạnh đến 28 - 320C và được đưa vào thùng lên men (hay còn gọi là thùng ủ) cùng với 10% men giống, ở đây nấm men sẽ phát triển và dưới tác dụng của nấm men, đường sẽ biến thành rượu và khí cacbonic cùng nhiều sản phẩm trung gian khác. Đồng thời dưới tác dụng của amylaza, dextrin tiếp tục biến thành đường và lên men được glucoza và maltoza. Sau khi lên men xong ta thu được hỗn hợp gồm rượu - nước - bã hay còn gọi Beer well. - Quá trình lên men sử dụng 6 bể chứa để cho phép quá trình hoạt động liên tục.
* Bể chứa đầu tiên được sử dụng để nhân giống nấm men (sản xuất) nấm men được phát triển nhanh chóng với việc bổ xung một lượng không nhỏ khí. Bể chứa này được trang bị một máy bơm tuần hoàn làm mát và máy trộn gắn ở phía trên. * Lên men được thực hiện trong bồn bể chứa, tất cả kích thước bằng nhau. Quá trình lên men tạo ra nhiệt, để loại bỏ thông qua bộ trao đổi nhiệt bên ngoài.
Chất lên men dẫn vào ống và làm lạnh để làm mát và chuyển thành bia. Những thay đổi này là plate-and-frame, được thiết kế khép kín. CO2 là sản phẩm của quá trình lên men và chuyển tới máy lọc hơi đốt. trong số khoảng 70 - 80% sẽ thu được trong một hệ thống kín.
Sau khi lọc để loại bỏ aldehydes và ethanol, khí ga có thể được trữ lại trong bể chứa hoặc nén lại thành những sản phẩm bán ra thị trường. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 9 * Sau khi lên men sản phẩm cuối cùng được đưa vào bể thứ 6. Kết quả ta thu được hỗn hợp ethanol - nước - bã hay còn gọi là Beer well 9038 A 9037 C 3030 PROCESS 3037 CARBON WATER MAKEUP VENT GAS SCRUBBER SCRUBBER C-3202 C-3202 ALL VENT EMISSIONS TO VENT GAS SCRUBBER ALL VENT EMISSIONS TO CO2 SCRUBBER E-3202 3036 PC-3202A/B 6117 6118 3034 3044 3038 TO SCRUBBER BOTTOMS PREHEATER#1 E-4305 Cooling Water Cooling supply Water Return Hình 1. Chƣng cất - Chưng cất là quá trình tách các ethanol và các tạp chất dễ bay hơi khỏi beer well.
Kết quả ta nhận được rượu thô hay cồn thô. - Cồn ở trong bia được tách ra từ stillage sử dụng hệ thống 3 cột chưng cất. Ba cột bia là 1, cột bia 2 và cột tinh chất.